Luận văn thạc sĩ công nghệ nhiệt nghiên cứu các thông số công nghệ của giai đoạn sấy tầng sôi trong phương pháp sấy bảo quản lúa hai giai đoạn

Luận văn thạc sĩ công nghệ nhiệt nghiên cứu thông số công nghệ giai đoạn sấy tầng sôi trong phương pháp bảo quản lúa hai giai đoạn hiệu quả.

Chuyên ngành

Công nghệ nhiệt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

135
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Công nghệ sấy và bảo quản lúa

Công nghệ sấybảo quản lúa là hai yếu tố quan trọng trong việc duy trì chất lượng hạt gạo sau thu hoạch. Việt Nam, mặc dù là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, vẫn gặp nhiều thách thức về chất lượng do tổn thất sau thu hoạch. Các phương pháp sấy truyền thống như phơi nắng và sấy tĩnh vĩ ngang tuy đơn giản nhưng tốn nhiều thời gian và nhân công. Công nghệ sấy tầng sôi được nghiên cứu như một giải pháp hiệu quả để giảm thiểu tổn thất và nâng cao chất lượng hạt gạo.

1.1. Phương pháp sấy tầng sôi

Phương pháp sấy tầng sôi sử dụng dòng khí nóng để tạo ra lớp hạt sôi, giúp tăng cường quá trình truyền nhiệt và truyền ẩm. Phương pháp này cho phép sấy lúa có độ ẩm cao (khoảng 30%) và giảm nhanh độ ẩm bề mặt xuống 20-22%. Hiệu suất sấy của phương pháp này cao hơn so với các phương pháp truyền thống, đồng thời tiết kiệm thời gian và nhân công.

1.2. Bảo quản lúa hai giai đoạn

Bảo quản lúa hai giai đoạn là quy trình kết hợp giữa sấy nhanh ở giai đoạn đầu và sấy chậm ở giai đoạn sau để đảm bảo độ ẩm an toàn (14-14.5%). Phương pháp này giúp giảm thiểu nguy cơ hư hỏng do ẩm mốc và nứt hạt, đồng thời duy trì chất lượng hạt gạo trong thời gian dài.

II. Thông số công nghệ sấy tầng sôi

Thông số công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa quá trình sấy tầng sôi. Các thông số chính bao gồm nhiệt độ sấy, thời gian sấy, và độ ẩm lúa. Việc điều chỉnh các thông số này giúp đạt được hiệu quả sấy cao nhất và đảm bảo chất lượng hạt gạo.

2.1. Nhiệt độ sấy

Nhiệt độ sấy là yếu tố quyết định tốc độ bay hơi ẩm từ hạt lúa. Nhiệt độ quá cao có thể gây nứt hạt, trong khi nhiệt độ quá thấp làm kéo dài thời gian sấy. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiệt độ tối ưu cho sấy tầng sôi dao động trong khoảng 50-70°C.

2.2. Thời gian sấy

Thời gian sấy phụ thuộc vào độ ẩm ban đầu của lúa và nhiệt độ sấy. Sấy tầng sôi giúp rút ngắn thời gian sấy so với các phương pháp truyền thống, từ 8-12 giờ xuống còn 2-4 giờ. Điều này giúp tăng năng suất và giảm chi phí vận hành.

III. Ứng dụng và hiệu quả của công nghệ sấy tầng sôi

Công nghệ sấy tầng sôi mang lại nhiều lợi ích trong việc bảo quản lúa, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết không thuận lợi. Phương pháp này giúp chủ động trong mọi thời tiết, không phụ thuộc vào nắng mưa, và đảm bảo chất lượng hạt gạo đồng đều.

3.1. Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế của công nghệ sấy tầng sôi được thể hiện qua việc tiết kiệm thời gian, nhân công và năng lượng. So với phương pháp phơi nắng, sấy tầng sôi giúp giảm thiểu tổn thất và tăng giá trị kinh tế của hạt gạo.

3.2. Ứng dụng thực tế

Ứng dụng thực tế của công nghệ sấy tầng sôi đã được triển khai tại nhiều nhà máy và kho bảo quản lúa ở Việt Nam. Kết quả cho thấy phương pháp này giúp giảm tổn thất sau thu hoạch từ 4.2% xuống còn dưới 1%, đồng thời nâng cao chất lượng hạt gạo xuất khẩu.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới nhưng chất lượng hạt gạo nước ta vẫn còn thua kém và tổn thất sau thu hoạch còn rất lớn do kỹ thuật và công nghệ sấy và bảo quản chưa được ứng dụng rộng rãi. Theo thống kê [24], tổn thất sau thu hoạch lúa gạo tại ĐBSCL năm 2011 là 13,7%, tương đương thiệt hại 635 triệu USD/năm, khâu phơi sấy chiếm cao nhất, thất thoát 4,2%, khâu thu hoạch 3%, xay xát 3%, bảo quản 2,6%, vận chuyển 0,9%. Ngoài ra, các mất mát về chất lượng cũng chưa được xem xét hết. Cụ thể như chất lượng, thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam thuộc cấp thấp chiếm đa số, giá bán thường thấp hơn gạo của Thái Lan và Mỹ từ 80 – 100 USD/tấn [24].

Để giảm tổn thất người ta đưa ra nhiều giải pháp ví dụ: gom các khâu, từ khâu thu hoạch đến khâu bảo quản lại với nhau bằng cách sử dụng máy gặt đập liên hợp để thu hoạch và sau đó dùng máy sấy. Do thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp để tránh rụng hạt trên đồng người ta phải thực hiện là phải thu hoạch vào giai đoạn lúa mới bắt đầu chín tới lúc này độ ẩm của lúa lúc này lại rất cao, ngoài ra do thu hoạch bằng máy nên năng suất lớn phải thực hiện sấy ngay do vậy nhu cầu sử dụng máy sấy trong những năm gần đây rất cao. Vấn đề chọn máy sấy được đặt ra sao cho: - Năng suất sấy cao. - Chất lượng sản phẩm đồng đều theo mong muốn.

- Tiết kiệm diện tích: nếu phơi nắng sẽ cần một diện tích đủ rộng, mặt khác diện tích này không dùng thường xuyên. Thời điểm bình thường thì không cần thiết, nhưng đến vụ mùa thì không đủ. - Tiết kiệm nhân công: nếu phơi lúa ngoài trời phải trông chừng nắng mưa, mang ra phơi, rồi cất vào. Đặc biệt là hiện trạng nông thôn Việt Nam ngày HVTH: ĐOÀN THẠCH ĐỘNG GVHD1: TS.

BÙI TRUNG THÀNH Luận văn Thạc Sĩ GVHD2: GS. LÊ CHÍ HIỆP Trang 2 nay đã thay đổi, lao động trẻ rất ít chỉ còn lại người già và phụ nữ do số lượng lao động này đã lên các thành phố lớn kiếm sống, nên thiếu lao động. - Tiết kiệm thời gian: phơi phải mấy ngày mới xong một mẻ, trong khi sấy chúng ta có thể làm khô 3-4 mẻ một ngày. - Chủ động trong mọi thời tiết, không phụ thuộc vào nắng mưa.

Chính vì vậy, sấy lúa càng nhanh càng tốt trong mùa thu hoạch đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt là vào mùa mưa để ngăn ngừa hư hỏng và đảm bảo chất lượng hạt gạo. Trong kỹ thuật sấy lúa cao cấp người ta thường sử dụng máy sấy tháp (thông dụng là các loại máy sấy tháp kiểu tam giác và kiểu tròn), tuy nhiên máy sấy tháp có hạn chế, yêu cầu vật liệu hạt sấy phải tương đối sạch, đặc biệt độ ẩm hạt sấy phải trong phạm vi < 24 %. Như vậy với lúa thu hoạch vừa chín tới và đặc biệt ngay vụ hè thu chạy mưa lúa thường có ẩm độ trên 28- 30 % thì sấy lúa bằng máy sấy tháp không thể thực hiện được, ngoài ra chi phí sấy tháp rất cao. Phương pháp sấy truyền thống như sấy tĩnh vĩ ngang hiện đang chiếm ưu thế do phương pháp và qui trình sấy đơn giản, giá đầu tư rẻ nhưng lại tốn nhiều thời gian (tới 8h hoặc thậm chí lâu hơn), nhiều lao động để sấy lúa đến độ ẩm an toàn (khoảng 14-14,5%).

Vì thế, ở những nơi tập trung lúa như nhà máy xay, các kho bảo quản thì phương pháp và kỹ thuật sấy năng suất cao và cơ giới hóa các khâu xử lý cần được quan tâm ứng dụng. Theo các nguồn [18], [19] người ta đã ứng dụng máy sấy tầng sôi vào kỹ thuật lúa có độ ẩm cao và ở nguồn tài liệu [21] đưa ra kết quả của phương pháp sấy tầng sôi cho hiệu quả cao, có thể sấy được lúa có độ ẩm xấp xỉ 30% và cho phép giảm nhanh độ ẩm ngoài của vỏ hạt lúa xuống độ ẩm 20 - 22%. Khi sấy chúng trong lớp hạt sôi có nhiệt để tác nhân cao hơn các mức sấy thông thường mà không làm thay đổi chất lượng gạo cũng như không làm hạt gạo bị vỡ nát khi xay xát. Như vậy, sấy tầng sôi được luận văn lựa chọn để đưa vào xây dựng là công nghệ sấy và bảo quản lúa hai giai đoạn trong đó máy sấy tầng sôi đưa vào sấy giảm ẩm nhanh ở giai đoạn thứ nhất và kết tiếp là có thể sấy tiếp sản phẩm sau sấy tầng sôi bằng máy sấy tĩnh.

Vấn đề đặt ra trong luận văn là lựa chọn loại máy sấy tầng sôi nào thì thích hợp cho sấy giảm ẩm nhanh ở giai đoạn thứ nhất, các thông số cơ bản của công nghệ sấy HVTH: ĐOÀN THẠCH ĐỘNG GVHD1: TS. BÙI TRUNG THÀNH Luận văn Thạc Sĩ GVHD2: GS. LÊ CHÍ HIỆP Trang 3 tầng sôi được thiết lập và có giá trị hợp lý, sản phẩm khi sấy giai đoạn 2 áp dụng theo cách sấy thông thường yêu cầu sản phẩm sấy đạt chất lượng, chi phí sấy thấp hơn sấy thông thường. Vần đề lựa chọn loại máy sấy tầng sôi, nghiên cứu xác định các thông số công nghệ và hợp lý hoá các thông số công nghệ sấy tầng sôi trong phương pháp sấy bảo quản lúa hai giai đoạn giúp giảm chi phí vận hành đến mức thấp, đồng thời nâng cao chất lượng hạt gạo là rất cần thiết mà luận văn phải giải quyết.2 Các tính chất và qui trình sản xuất lúa gạo 1.1 Cây lúa và cấu tạo hạt lúa Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, cùng với ngô (Zea Mays L.), lúa mì (Triticum sp, tên khác: tiểu mạch), sắn (Manihot esculenta Crantz, tên khác: khoai mì) và khoai tây (Solanum tuberosum L.

Lúa là các loài thực vật sống một năm, có thể cao tới 1-1,8 m, đôi khi cao hơn, với các lá mỏng, hẹp bản (2-2,5 cm) và dài 50–100 cm. Các hoa nhỏ tự thụ phấn mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 30–50 cm. Cấu tạo hạt lúa Hạt gọi là thóc (hạt nhỏ, cứng của các loại cây ngũ cốc) dài 5–12 mm và dày 2–3 mm. Cây lúa non được gọi là mạ.

Sau khi ngâm ủ, người ta có thể gieo thẳng các hạt thóc đã nảy mầm vào ruộng lúa đã được cày, bừa kỹ hoặc qua giai đoạn gieo mạ trên ruộng riêng để cây lúa non có sức phát triển tốt, sau một khoảng thời gian thì nhổ mạ để cấy trong ruộng lúa chính. Sản phẩm thu được từ cây lúa là thóc. Sau HVTH: ĐOÀN THẠCH ĐỘNG GVHD1: TS. BÙI TRUNG THÀNH Luận văn Thạc Sĩ GVHD2: GS.

LÊ CHÍ HIỆP Trang 4 khi xát bỏ lớp vỏ ngoài thu được sản phẩm chính là gạo và các phụ phẩm là cám và trấu.2 Thành phần hoá học Thành phần hóa học của hạt lúa cho ở bảng sau: Bảng 1. Thành phần hóa học có trong hạt lúa [25] Nước Gluxit Protit Lipit Xenlulo Tro Vitamin 13,0% 64,03% 6,69% 2,1% 8,78% 3,36% 5,36% Gạo lứt, gạo lức, gạo rằn hay gạo lật là loại gạo chỉ xay bỏ vỏ trấu, chưa được xát bỏ lớp cám gạo. Đây là loại gạo rất giàu dinh dưỡng đặc biệt là các sinh tố và nguyên tố vi lượng. Thành phần của gạo lứt gồm chất tinh bột, chất đạm, chất béo, chất xơ cùng các vitamin như B1, B2, B3, B6; các axit như pantothenic (vitamin B5), paraaminobenzoic (PABA), folic (vitamin M), phytic; các nguyên tố vi lượng như canxi, sắt, magiê, selen, glutathion (GSH), kali và natri.

Trường hợp gạo trắng qua quá trình xay, giã, 67% vitamin B3, 80% vitamin B1, 90% vitamin B6, một nửa lượng mangan và hầu hết chất xơ bị mất đi [25].3 Tính chất vật lý 1.1 Tính tan rời Là khả năng của các hạt trong khối hạt do sự khác nhau về kích thước, hình dạng, dung trọng…. Là đặc tính khi đổ thóc từ trên cao xuống, thóc tự dịch chuyển để tạo thành khối thóc có hình chóp nón, phía đáy rộng, đỉnh nhọn và không có hạt nào dính liền với hạt nào (lúa tương đối khô). Khi đó sẽ tạo nên góc nghiêng tự nhiên α giữa đáy và sườn khối thóc. Tính tan rời của khối thóc phụ thuộc vào: kích thước và hình dạng hạt, thủy phần, tạp chất.

Dựa vào độ tan rời này có thể xác định sơ bộ chất lượng và sự thay đổi chất lượng của thóc trong quá trình sấy và bảo quản ta đánh giá qua góc nghiêng của thóc. α: Góc nghiêng tự nhiên của hạt thóc HVTH: ĐOÀN THẠCH ĐỘNG GVHD1: TS. BÙI TRUNG THÀNH Luận văn Thạc Sĩ GVHD2: GS. LÊ CHÍ HIỆP Trang 5 1.2 Tính tự phân loại Là hiện tượng làm mất đi tính trộn đều ban đầu của khối hạt dẫn đến hình thành từng khu vực có tính chất giống nhau của hạt.

Khối hạt có cấu tạo từ nhiều thành phần (thóc sạch, thóc lép, tạp chất), không đồng nhất (khác nhau về hình dạng, kích thước, tỉ trọng) do đó, trong quá trình di chuyển tạo nên những vùng khác nhau về chất lượng, gọi là tính tự chia loại của khối hạt. Hiện tượng tự chia loại ảnh hưởng xấu đến việc làm khô, bảo quản. Những vùng nhiều hạt lép, tạp chất dễ hút ẩm, dễ bị cuốn lẫn theo tác nhân sấy trong quá trình sấy. Tỷ lệ từng khu vực của khối thóc [26] Khu vực Dung trọng Hạt dập Hạt lép Hạt cỏ Tạp chất hạt (g/l) vỡ (%) (%) dại (%) bụi (%) 1.3 Độ chặt, độ hổng của khối thóc ™ Độ chặt (mật độ hạt): là tỷ lệ % mà thể tích tuyệt đối của hạt chiếm chỗ trong khối hạt (t).

Độ chặt của khối hạt được tính theo công thức: t = V1 * 100 / V (%) (1.1) trong đó: - V1 được xác định bằng cách: đếm 1000 hạt cho vào ống đong có chứa toluen, thể tích dâng lên chính là V1. - V = m * 1000 / ρv (ml) - m: khối lượng của hạt, g. - ρv: khối lượng thể tích của khối hạt, g/l. ™ Độ hổng (độ rỗng): là tỷ lệ % mà toàn bộ không gian giữa các hạt chiếm chỗ trong khối hạt.

Là khoảng không nằm trong khe hở giữa các hạt, có chứa đầy HVTH: ĐOÀN THẠCH ĐỘNG GVHD1: TS. BÙI TRUNG THÀNH Luận văn Thạc Sĩ GVHD2: GS. LÊ CHÍ HIỆP Trang 6 không khí. Trong quá trình sấy, khối thóc cần có lỗ hổng cần thiết tạo điều kiện cho quá trình truyền và trao đổi nhiệt, ẩm với tác nhân sấy được dễ dàng: ρv ε = 1− (1.2) ρ hat ™ Ý nghĩa: - Độ chặt lớn tiết kiệm được kho chứa nhưng trao đổi nhiệt, lưu thông không khí kém.

- Độ hổng lớn thuận lợi cho việc bảo quản lương thực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu thông số công nghệ sấy tầng sôi trong bảo quản lúa hai giai đoạn" tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình sấy lúa bằng công nghệ sấy tầng sôi, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả bảo quản lúa qua hai giai đoạn. Nghiên cứu này cung cấp các thông số kỹ thuật chi tiết, giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách áp dụng công nghệ này trong thực tế, từ đó giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch và tăng giá trị kinh tế cho nông sản.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp bảo quản và nâng cao chất lượng nông sản, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học khảo sát ảnh hưởng của oligochitosan lên khả năng chịu hạn của cây mạ lúa oryza sativa l, nghiên cứu về tác động của oligochitosan trong việc cải thiện khả năng chịu hạn của cây lúa. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa khẩu pái tại huyện hàm yên tỉnh tuyên quang cung cấp thêm góc nhìn về yếu tố mật độ trồng ảnh hưởng đến năng suất lúa. Cuối cùng, Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước và khoảng cách mật độ cấy đến sinh trưởng phát triển lúa séng cù tại huyện văn chấn tỉnh yên bái là một tài liệu hữu ích để hiểu sâu hơn về các yếu tố kỹ thuật trong canh tác lúa.