CHƯƠNG 1 TÚ QUỲ VÀ VĂN HÓA QUẢNG NAM TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm “trào phúng” và “văn học trào phúng” Từ góc độ giải thích ý nghĩa từ ngữ, Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “trào phúng là có tính chất gây cười để châm biếm, phê phán” [31, 245]. Còn với tư cách một thuật ngữ chuyên môn, “trào phúng” được Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa là “một loại đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước… được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng… những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội” [11, 363].
Từ điển văn học (bộ mới) thì cho rằng trong văn chương, bộ phận thể hiện cái hài (tiếng cười) được gọi là “Văn học trào phúng”. Và theo tác giả mục từ, cái hài này có các cung bậc khác nhau. Đó là hài hước “có mức độ phê phán nhẹ nhàng, dí dỏm, chủ yếu để gây cười trên cơ sở vạch ra sự mất cân đối, hài hòa giữa nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng” [12, 1962]; châm biếm - “dùng lời lẽ sắc sảo, thâm thúy để vạch trần thực chất xấu xa của đối tượng cần phê phán”, và sự khác nhau giữa châm biếm với hài hước là “ở mức độ gay gắt trong phê phán và hình tượng nghệ thuật có ý nghĩa sâu sắc hơn”, châm biếm “phủ nhận cái chung, cái căn bản, còn hài hước phủ nhận cái cá biệt, thứ yếu” [12,1962-63]; đả kích - “là tiếng cười phủ định triệt để, quyết liệt, thể hiện 9 c thái độ đối lập của nhà văn, gắn liền với một lý tưởng xã hội tiến bộ, chống lại những tư tưởng bảo thủ, phản động” [12,1963]. Từ việc phân biệt các cấp độ cụ thể của cái hài trong tác phẩm văn chương như vậy, tác giả mục từ khẳng định, văn học trào phúng là loại văn chương mà ở đó các tác giả “sử dụng tiếng cười như một thủ pháp nghệ thuật để xây dựng hình tượng phủ định với mục đích châm biếm phê phán xã hội” [12, 1963].
Có thể thấy, tuy mỗi diễn giải có những điểm nhấn khác nhau, song vẫn có một số điểm thống nhất. Đó là, về nguyên nghĩa “trào phúng” là tạo ra cái hài/tiếng cười (trào) với ngụ ý (phúng) chế giễu, phê phán những hiện tượng nghịch dị, lỗi thời, xấu xa. Và trong văn chương, trào phúng là chỉ những tác phẩm có ngụ ý chế giễu, phê phán thông qua nghệ thuật gây cười, hay nói khác đi khái niệm đó chỉ chung những tác phẩm lấy tiếng cười làm phương tiện để biểu hiện thái độ chế giễu, phê phán một đối tượng nhất định. Như vậy, tác phẩm trào phúng phải bao gồm cả 2 yếu tố: gây cười (phương thức) và chế giễu, phê phán (mục đích).
Tiếng cười trong tác phẩm nghệ thuật trào phúng thường được chia thành những cấp độ chính, như: - Tiếng cười khôi hài/hài hước (hóm hỉnh, thường để giải trí). - Tiếng cười giễu nhại, châm phúng/châm biếm. - Tiếng cười phê phán, đả kích. trong đó, cấp độ thứ hai và ba mang ý nghĩa phê phán và đậm tính xã hội hơn.
Cách hiểu trên đây cũng sẽ được chúng tôi sử dụng làm cơ sở cho việc xác lập và phân loại tác phẩm trào phúng của Tú Quỳ ở phần Phụ lục. Khái niệm “địa văn hóa” Trước khi tìm hiểu khái niệm “địa văn hóa”, xin nhắc lại một số định nghĩa cơ bản về “văn hóa”. 10 c Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “văn hóa” là “những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc. Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân.
Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa. Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai” [8, 1796]. Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm cho rằng: Từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệmcó nội hàm hết sức khác nhau.
Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…).
Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…) [49]. Chính với “không gian” của văn hóa trong những diễn giải nói trên, các nghiên cứu văn hóa trên thế giới cũng như Việt Nam đã có nhiều khảo sát về “vùng văn hóa” tức là “địa văn hóa”. “Địa văn hóa” là khái niệm xuất hiện lần đầu ở Đức vào thế kỷ XIX. Trong quá trình phát triển chuyên ngành văn hóa đã lan rộng và phát triển thành nhiều cành nhánh, tuy nhiên điểm cốt lõi của các nghiên cứu “địa văn hóa” là quan tâm đến việc khảo sát, lý giải môi trường 11 c địa lý, các tác nhân của địa lý đến sự hình thành và phát triển của những vùng/khu vực văn hóa.
Theo ông, “địa văn hoá” là đưa vào chuyên ngành địa lý những tiếp cận văn hoá từ nhiều chuyên ngành để “soi sáng thêm nhiều vấn đề của con người”, bởi mỗi con người là “một cấu trúc cảm xúc và văn hóa phức hợp” [3]. Đồng thời, từ đề xuất này, các nghiên cứu về văn hoá cũng được bổ sung một góc nhìn mới. Đó là, bàn về văn hóa cần quan tâm đến sự định vị của nó trong giới hạn địa lý mà ở đó văn hóa và các yếu tố địa lý tương tác qua lại, tạo nên những tính cách, ứng xử vừa đặc thù vừa thống nhất. Nói khác đi, việc nghiên cứu văn hoá, văn chương trong môi trường địa lý của nó sẽ giúp nhìn ra cả sự tương tác lẫn kết quả của tương tác là tính đặc thù và thống nhất.
Ở Việt Nam, giới nghiên cứu văn hóa đã đưa ra các phương án phân vùng văn hóa1. Hiện có bốn phương án khác nhau trong phân vùng văn hóa Việt Nam2. Mỗi phương án phân vùng văn hóa Việt Nam đều dựa trên một cơ 1 Trong ngôn từ tiếng Việt còn có “xứ”, với cả tự dạng Hán Nôm và quốc ngữ, để chỉ tính khu vực hoặc các vùng. Tuy nhiên, “xứ” thường chỉ mang nghĩa phân vùng địa lý (khu vực có chung đặc điểm tự nhiên, xã hội ) mà gần như không mang hàm nghĩa văn hoá trực diện.
2 Phương án thứ nhất, Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận (chủ biên) trong cuốn Các vùng văn hóa Việt Nam (Nxb Văn học, Hà Nội, 1995), chủ trương chia nước ta thành chín vùng văn hóa. Phương án thứ hai, Huỳnh Khái Vinh, Nguyễn Thanh Tuấn, trong Chấn hưng các vùng và tiểu vùng văn hóa ở nước ta hiện nay (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995), xác định Việt Nam có tám vùng văn hóa. Phương án thứ ba, Ngô Đức Thịnh trong Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993), thì chủ trương chia văn hóa Việt Nam thành bảy vùng. Phương án thứ tư, Trần Quốc Vượng (chủ biên) trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997) đề xuất sáu vùng văn hóa Việt Nam.
12 c sở lý luận và hệ tiêu chí nhất định liên quan đến vấn đề địa văn hóa. Theo đó, với mỗi vùng văn hóa, cần xem xét hai loại yếu tố: Một là yếu tố quyết định, hai là yếu tố biểu hiện. Yếu tố quyết định là những yếu tố về địa lý, điều kiện tự nhiên như địa hình, sinh thái, khí hậu, những đặc điểm về tộc người của dân cư, những đặc điểm về quá trình phát triển lịch sử - xã hội, lịch sử chính trị, lịch sử đấu tranh, trạng thái xã hội… Yếu tố biểu hiện là lối sống, phong tục tập quán, nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, ca múa, sân khấu…), ngôn ngữ và văn hóa, giao lưu văn hóa giữa nội và ngoại vùng, sự tương tác giữa văn hóa dân gian và văn hóa bác học, vai trò tinh hoa của trung tâm và sự khuếch tán của nó đối với vùng, tạo nên tính cách, tâm lý, nếp sống của cư dân địa phương. Theo các tiêu chí phân vùng văn hóa như vậy, Quảng Nam thuộc vùng văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ.
Thời xa xưa, nơi đây gắn với văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm Pa và chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Hoa. Quá trình Nam tiến của người Việt bắt đầu từ thời Lý đã tác động đến quá trình lịch sử, bức tranh dân cư và quá trình văn hóa của miền Trung, trong đó có Quảng Nam. Việc di dân của người Việt vào Xứ Quảng nói riêng và trung Trung Bộ nói chung đã để lại những hệ quả to lớn, sâu sắc trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực văn hóa. Đó là sự gặp gỡ, giao thoa giữa văn hóa của người Chăm với văn hóa của người Việt, giao thoa văn hóa giữa các vùng miền và chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Hoa và sau này là văn hóa phương Tây thông qua văn hóa Pháp.
Chính vì nhận thấy tính chất địa vùng này mà nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu khi tìm hiểu Nguyễn Thông – nhà ái quốc, nhà thơ, nhà sử học đặc sắc của Nam Kỳ đã có một lưu ý: “Trong lịch sử, đất nước ta sớm thống nhất.