Chương 1: Tổng quan - Chương 2: Giới thiệu về nấm linh chi - Chương 3: Cơ sở lý thuyết và thực nghiệm - Chương 4: Tính toán - Chương 5: Chế tạo, chạy thử nghiệm, đánh giá Kết luận và kiến nghị 23 Chương 2 NẤM LINH CHI 2. Tổng quan về nấm linh chi 2. Giới thiệu nấm linh chi Linh chi có rất nhiều tên gọi: Nấm vạn năm, nấm thần tiên, cỏ trường sinh, hạnh nhỉ, vv…linh chi là vị thuốc quý đã được loài người nghiên cứu sử dụng từ lâu đời. Trong sách “Thần nông bản thảo” - một dược thư cổ của Trung Quốc cách đây hơn 2.000 năm cũng ghi lại khá nhiều tác dụng chữa bệnh của linh chi.
Linh chi (Ganoderma) có chu trình sống giống các loại nấm đảm khác, vị trí phân loại như sau: Ngành: Eumycote Bộ: Polyporales Chi: Ganoderma Lớp: Basidiomycetes Họ: Ganodermataceae Loài: Ganoderma lucidum Hình 2.1: Nấm linh chi 24 2. Đặc điểm sinh học nấm linh chi Linh chi thuộc nhóm nấm lớn và rất đa dạng về chủng loại. Từ khi xác lập thành một chi riêng, là Ganoderma Karst (1881), đến nay tính ra có hơn 200 loài được ghi nhận, riêng Ganoderma lucidum đã có 45 thứ. Nấm linh chi (quả thể) cây nấm gồm 2 phần cuống nấm và mũ nấm (phần phiến đối điện với mũ nấm).
Cuống nấm dài hoặc ngắn hay không cuống, đính bên có hình trụ đường kính 0,5 - 3cm. Cuống nấm cứng, ít phân nhánh, đôi khi có uốn khúc cong queo. Lớp vỏ cuống màu đỏ, nâu đỏ, nâu đen, bóng, không có lông, phủ suốt lên mặt tán nấm. Mũ nấm (tai nấm) hoá gỗ, xoè tròn, khi non có hình trứng, lớn dần có hình quạt, hình bầu dục hoặc thận.
Trên mặt mũ có vân gạch đồng tâm màu sắc từ vàng chanh -vàng nghệ - vàng nâu - vàng cam - đỏ nâu - nâu tím. Mũ nấm có đường kính 2 - 15 cm, dày 0,8 - 1,2 cm, phần đính cuống thường gồ lên hoặc hơi lõm. Mặt dưới phẳng, màu trắng hoặc vàng, có nhiều lỗ li ti, là nơi hình thành và phóng thích bào tử nấm. Bào tử nấm dạng trứng cụt với hai lớp vỏ, giữa hai lớp vỏ có nhiều gai nhọn nối từ trong ra ngoài.
Khi nấm đến tuổi trưởng thành thì phát tán bào tử từ phiến có màu nâu sẫm.2: Hình thái giải phẫu của quả thể nấm linh chi Phần thịt nấm dày từ 0,4 - 2,2 cm, màu vàng kem - nâu nhợt - trắng kem, phân chia kiểu lớp trên và lớp dưới. Ở lớp trên, các tia sợi hướng lên, các sợi phình hình chùy, 25 màng rất dày, đan khít vào nhau tạo thành lớp vỏ láng, nhờ lớp vỏ này mà nấm chịu được mưa nắng. Ở lớp dưới hệ sợi tia xuống đều đặn, tiếp giáp vào tầng sinh bào tử. Tầng sinh sản (bảo tầng - thụ tầng) là một lớp ống dày 0,2 - 1,8 cm màu kem -nâu nhạt gồm các ống nhỏ thẳng, miêng gần tròn, màu trắng, vàng chanh nhạt, khoảng 3 - 35 ống/mm.
Phân loại nấm linh chi Có 2 nhóm lớn là: Cổ linh chi và linh chi. Cổ linh chi: Là các loài nấm gỗ không cuống (hoặc cuống rất ngắn) có nhiều tầng (mỗi năm thụ tầng lại phát triển thêm một lớp mới chồng lên). Mũ nấm hình quạt, màu từ nâu xám đến đen sẫm, mặt trên sù sì thô ráp. Chúng sống ký sinh và hoại sinh trên cây gỗ trong nhiều năm (đến khi cây chết thì nấm cũng chết).
Vì vậy các nhà bảo vệ thực vật xếp cổ linh chi vào nhóm các tác nhân gây hại cây rừng, cần khống chế. Cổ linh chi mọc hoang từ đồng bằng đến miền núi ở khắp nơi trên thế giới. Trong rừng rậm, độ ẩm cao, cây to thì nấm phát triển mạnh, tán lớn. Ở Việt Nam đã phát hiện trong rừng sâu Tây Nguyên có những cây nấm cổ linh chi lớn, có cây tán rộng tới hơn 1 mét, nặng hơn 40kg.
Tên khoa học: Ganoderma applanatum (Pers) Past. Cổ linh chi có hàng chục loài khác nhau.3: Cổ linh chi Hình 2.4: Cổ linh chi sống ký sinh trên thân cây 26 Linh chi: Là các loài nấm gỗ mọc hoang ở những vùng núi cao và lạnh ở các tỉnh Tứ Xuyên, Quảng Tây, Quảng Ðông (Trung Quốc). Nấm có cuống, cuống nấm có màu (mỗi loài có một màu riêng như nâu, đỏ vàng, đỏ cam). Thụ tầng màu trắng ngà hoặc màu vàng.
Mũ nấm có nhiều hình dạng, phổ biến là hình thận, hình tròn. Mặt trên bóng. Nấm hơi cứng và dai. Tên khoa học: Ganoderma lucidum (Leyss ex Fr) Kart.
Sách Bản thảo cương mục (in năm 1595) của Lý Thời Trân, đại danh y Trung Quốc đã phân loại linh chi theo màu sắc thành 6 loại, mỗi loại có công dụng chữa bệnh khác nhau.5: Sáu loại linh chi phân theo màu sắc 2. Đặc điểm sinh trưởng và sinh sản Các bào tử đảm đơn bội, trong điều kiện thuận lợi, nảy mầm tạo hệ sợi sơ cấp, trong thực nghiệm thì tỉ lệ nảy mầm ở nhiệt độ 28 - 30oC. Hệ sội sơ cấp đơn nhân đơn bội mau chóng phát triển, phối hợp với nhau tạo ra hệ sợi thứ cấp - tức hệ sợi song hạch phát triển, phân nhánh rất mạnh, tràn ngập khắp giá thể. Lúc này, thường có hiện tượng hình thành bào tử vô tính màng dày - rất dày.
Chúng dễ dàng rụng ra khi gặp điều kiện phù hợp sẽ nảy mầm cho ra hệ sợi song mạch tái sinh. Hệ sợi thứ cấp phát triển mạnh đạt tới giai đoạn cộng bào - tức các vách ngăn được hòa tan. Tiếp đó là giai đoạn sợi bện kết để chuẩn bị cho sự hình thành mầm móng quả thể, đây chính là giai đoạn phân hóa hệ sợi. Từ hệ sợi nguyên thủy hình thành các sợi cúng màng dày, ít phân nhánh bên kết lại thành cấu trúc bó được cố kết bởi các sợi bên phân nhánh rất mạnh.
27 Từ đó hình thành các mầm nấm màu trắng mịn vươn dài thành các trụ tròn mập, phần đỉnh trụ bắt dầu xòe thành tán, trong lúc lớp vỏ láng đỏ cam xuất hiện. Tán lớn dần hình thành bào tầng và bắt đầu phát tán bào tử đảm liên tục cho đến khi nấm già sẫm màu, khô tóp và lụi dần trong vòng 3 - 4 tháng.6: Chu trình phát triển của nấm linh chi Bảng 2.1: Các yếu tố sinh thái của nấm linh chi Yếu tố Giai đoạn Thích hợp Chú thích Nuôi tơ 28 - 32oC Nhiệt độ Kết hạch 25 - 27oC Ra quả thể 27 - 28oC pH Nuôi tơ 5,0 - 6,0 Ánh sáng Quả thể 500 - 1200 lux Nuôi tơ 55 - 65% Nguyên liệu Độ ẩm Quả thể 70 - 90% Không khí Nấm linh chi có thể mọc trên cây gỗ (thường là thuộc bộ đậu Fabales) đã chết. quả thể gặp rộ vào mùa mưa (từ tháng 5 - tháng 11 dương lịch), có thể trên thân cây (cuống thường ngắn, tai nấm nhỏ), quanh gốc cây hoặc từ các rễ cây khi ấy cuống dài và có thể phân nhánh, đôi khi tán nấm lớn (xấp xỉ 30 cm). Nấm thường mọc tốt dưới rợp, ánh sáng khuếch tán nhẹ.
Do có lớp vỏ láng đỏ, linh chi có thể chịu nắng rọi, khi ấy sẽ xuất hiện lớp phấn ánh xanh tím, có thể chịu mưa liên tục. Đáng chú ý là các chủng nấm linh chi thường có màu nâu đỏ bóng sẫm màu hơn, trong khi chủng linh chi ở Đà Lạt thường đỏ hồng - đỏ cam. Ở những vùng thấp (nhỏ hơn 500m) rõ ràng là ưu thế của các chủng chịu 28 nhiệt độ cao (28 - 35) như ở vùng châu thổ sông Hồng và đồng bằng song Cửu Long (quanh thành phố Hồ Chí Minh). Thành phần hoá học và tác dụng chữa bệnh của nấm linh chi Tác dụng trị bệnh của linh chi rất rộng rãi và rất ưu việt.
Đó không phải là tác dụng riêng của một thành phần nào cả, mà là tác dụng của hỗn hợp nhiều chất có chứa trong linh chi. Cho đến nay, thành phần hóa học của linh chi đã được các nhà khoa học phân tích kỹ càng với các phương tiện hiện đại như: HPLC, sắc ký khí, UV, Ỉ, NMR, vv… cho thấy có gần 200 hoạt chất và dẫn chất có trong linh chi bao gồm acid amin, các acid hữu cơ, các acid béo, terprnoid, alkaloid, polysaccharide, protein, glycoprotein, các khoáng đa lượng và vi lượng.2: Tóm tắt thành phần hóa học và tác dụng trị bệnh của nấm linh chi NHÓM CHẤT HOẠT CHẤT HOẠT TÍNH Alcaloid Trợ Tim Polysacharid Beta - D - glucan Chống ung thư, tăng tính miễn Ganodosporeic A, B, C, D dịch,hạ đường huyết, tăng tổng hợp -6 protein, tăng chuyển hóa acid nucleic Steriod Ganodosteron Lanosporeic Giải độc gan, Ức chế sinh tổng hợp acid A, Lonosterol cholesterol Triterpenoid Ganodermic acid mf, T - O Ức chế giải phóng Histamin Ganodemic acid R,S Hạ huyết áp, ức chế ACE Ganodemic acid B, D, F, Chống khối u H, K, S, Y Bảo vệ gan Ganodemadiol Ganosporelacton A, B Lucidon A Lucidol 29 Nucleosid Adenosid dẫn xuất Ức chế kết dính tiểu cầu, thư giãn cơ, giảm đau Protein Lingzhi - 8 Chống dị ứng phổ rộng, điều hòa miễn dịch Acid béo Oleic acid Ức chế giải phóng Histamin 2. Giới thiệu về mạt cưa và vi sinh vật phân giải nguyên liệu Nấm linh chi sử dụng nguyên liệu chủ yếu là mạt cưa cao su tươi, khô, không có tinh dầu và độc tố. Ngoài ra còn có thể trồng linh chi từ nguyên liệu là thân gỗ.
Tốt nhất nên sử dụng cây gỗ cao su, bồ đề, so đũa, sung. Mạt cưa cao su là nguồn cơ chất mà linh chi phát triển rất tốt với giá thu mua rẻ tăng thêm lợi nhuận cho việc trồng nấm. Mạt cưa là nguồn phế thải gây ô nhiễm môi trường nặng nhưng nó lại đem lại hiệu quả kinh tế trong việc trồng nấm đặc biệt là nấm linh chi. Hàm lượng cellulose có trong nguyên liệu mạt cưa rất cao, cấu trúc rất bền và đa dạng, để phân giải cần các loại acid mạnh và kiềm mạnh.
Như vậy sẽ gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy cần có vi sinh vật phân hủy để nấm có thể hấp thụ dễ dàng. Trong thiên nhiên có rất nhiều nhóm vi sinh vật có khả năng phân giải cellulose. Nấm sợi: Trong số các nhóm vi sinh vật tham gia phân giải cellulose thì nấm sợi có khả năng phân giải mạnh nhất.
Nấm sợi có số lượng lớn và đa dạng về chủng loại trong tự nhiên, có hệ sợi phát triển, hệ sợi đó có khả năng xuyên qua nhiều ngồn cellulose có cấu trúc bền vững. Vi khuẩn: Nói chung, vi khuẩn có khả năng phân giải cellulose nhưng không mạnh bằng nấm sợi, do cellulose tự nhiên không phải là môi trường tốt cho sinh trưởng của vi khuẩn.