Chương 1: Tổng quan về bài toán khảo sát ảnh điện EIT hiện trường, cơ sở lý thuyết, phương pháp đo, các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả đo, các nghiên cứu đã thực hiện và nêu ra những vấn đề còn đang tồn tại cả về lý luận cũng như thực tiễn. Chương 2: Xây dựng hệ đo phổ EIS cho thí nghiệm hiện trường gồm: xây dựng phần cứng bộ phát tín hiệu dòng có dạng sóng tùy ý, bộ chuyển đổi điện áp-dòng điện có hiệu điện thế bám cao, bộ thu thập dữ liệu đa kênh, thuật toán và giao diện chương trình phần mềm, các tính toán cho ước lượng tham số và hiệu chỉnh EMCE giữa cáp và cáp. Kiểm chuẩn qua các đối tượng biết trước để đánh giá các thông số của cáp tín hiệu và hệ thống. Trình bày các kết quả thu được trong quá trình thí nghiệm trong phòng thí nghiệm và KSTĐ, cũng như các so sánh, biện luận liên quan đến kết quả thu được.
Từ đó, chứng minh tính đúng đắn của phương pháp cũng như độ tin cậy của thiết bị. Chương 3: Đề xuất các giải pháp và ứng dụng thực tiễn: triển khai nhanh thiết bị ERT hiện trường phù hợp điều kiện Việt Nam, chi phí thấp, các kết quả đạt được và so sánh với thiết bị thương mại. Đề xuất giải pháp nguồn năng lượng quan trắc ERT sử dụng điện mặt trời và ứng dụng của nhiễu địa điện trong quan trắc mật độ phương tiện giao thông. Kết quả công bố Kết quả đạt được: 01 báo cáo hội nghị cấp quốc gia, 03 công trình khoa học công bố trong tạp chí khoa học cấp quốc gia, 01 công trình công bố trên tạp chí quốc tế, 02 đăng ký sở hữu trí tuệ liên quan đã được chấp nhận đơn hợp lệ.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ PHƢƠNG PHÁP ẢNH ĐIỆN Phương pháp ảnh điện trở ERT dùng cho khảo sát thực địa còn gọi là phương pháp khảo sát hay thăm dò điện xuất hiện cách đây đã hơn 100 năm và là một trong phương pháp thăm dò địa vật lý thông dụng nhất hiện nay [87, 151]. Phương pháp này dùng để vẽ ảnh phân bố điện trở suất của khu vực cần khảo sát với độ phân giải có thể từ vài milimet đến hàng kilomet thông qua việc đo điện trở một chiều ở các vị trí khác nhau với cùng cấu hình điện cực [15]. Ứng dụng của phương pháp ERT trải rộng ở nhiều lĩnh vực như: khảo sát môi trường, tìm kiếm tài nguyên, nước, khoáng sản, phát hiện tai biến ngầm, trượt lớp [22, 152, 167].
Hiện nay, các nghiên cứu phương pháp cũng như ứng dụng ERT được phát triển theo ba hướng chính: (1) phát triển thuật toán khảo sát được tối ưu hóa nhằm tiết kiệm thời gian nhưng vẫn cho độ phân giải cao [146, 169] (2) phát triển thiết bị mới có khả năng thu thập xử lý dữ liệu lớn 3D, có khả năng đo 4D - trên sơ sở sự phụ thuộc của điện trở suất (tham số của thăm dò địa điện) vào nhiều quá trình cần khảo sát theo thời gian[16, 145, 170]) (3) các phương pháp nâng cao độ chính xác của kết quả giải bài toán ngược áp dụng cho khảo sát 3D và 4D [87, 168]. Trong khi ERT là phép đo ở tần số rất thấp hay dòng điện một chiều, khi mà các hiệu ứng về phân cực thể hiện các tính chất điện hóa diễn ra trên các mặt phân lớp hoặc các biên hạt [113] bên trong môi trường không được tính đến, EIT là phương pháp ảnh tổng trở có tính đến các hiệu ứng phân cực cảm ứng IP thông qua hệ số tích điện m và cho biết nhiều thông tin về đối tượng đo [14]. Khái niệm về IP thực tế hay bị lẫn với các hiệu ứng EMC do trước đây không tính đến hiệu ứng này, đại lượng đánh giá cụ thể hơn là tham số tổng trở suất phức CR biểu kiến () với các thành phần thực-ảo hay biên độ - pha được hồi quy theo các mô hình khác nhau như mô hình Cole-Cole với các tham số thời gian hồi phục phản ánh độ phân tán của trở kháng theo tần số [111]. Các phép đo EIT được thực hiện ở một hoặc nhiều tần số tại nhiều vị trí khác nhau, các phép đo có nhiều tên gọi tùy vào phương pháp đo cũng như mục đích đo nhưng sự chuyển đổi giữa các đại lượng này hoàn toàn 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hiện được dễ dàng.
Phổ tổng trở đo được với TNHT được gọi điện trở suất (thực-phức) biểu kiến.Giá trị IP đo được theo các tần số khác nhau gọi là khảo sát SIP - phổ phân cực cảm ứng, đo CR theo các tần số gọi là phổ trở suất phức hay phổ tổng trở EIS, thông tin thu được là biên độ - pha hay phần Z thực-ảo. Khảo sát SIP hay phổ trở suất phức CR, EIS cho nhiều thông tin hơn khảo sát điện trở nhưng cũng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc ước lượng giá trị của các đại lượng. Thông tin về SIP hay phổ CR được dùng để hoàn thiện những hiểu biết về tính chất điện của các môi trường xốp hay sinh hóa bởi độ dẫn phức có độ nhạy cao với các môi trường này [71]. Điều đó khiến SIP có nhiều giá trị trong khảo sát các đặc trưng bề mặt, tìm kiếm khoáng kim loại [111], ô nhiễm [158], quan trắc quá trình hồi phục môi trường [47] hay hoạt động của vi khuẩn [127], nông nghiệp [88].
Tuy nhiên, ở tần số cao hơn 100 Hz, sai số về pha trở nên đáng kể do các hiệu ứng về điện dung ngoài mong muốn tạo bởi bởi các tụ điện ký sinh trong mạch điện tử cấu thành thiết bị được quan sát bởi một số nghiên cứu [14, 71, 141]. Những hiệu ứng này khiến các phép đo SIP trở nên bất định ở tần số cao. Gần đây, phương pháp IP và SIP được nhiều nhóm nghiên cứu phát triển, như mô hình hóa bài toán thuận [11, 29, 69], thu thập dữ liệu [41, 45, 97, 106, 148], minh giải bài toán ngược và tái tạo hình ảnh [44, 73, 80]. Phƣơng pháp ảnh điện ERT, EIT hiện trƣờng 1.
Cơ sở phƣơng pháp ảnh điện Về cơ bản, phương pháp ảnh điện ERT, EIT dựa trên phép đo điện trở suất () hay độ dẫn () thông qua việc phát một dòng điện có cường độ I() = FT[I(t)] xuống bề mặt đối tượng qua hai điện cực dòng, hiệu điện thế phản hồi được thực hiện qua hai điện cực khác các điện cực gắn với đối tượng cần đo U(). Hàm truyền phức H() trong trường hợp (phép đo) này là tỷ số: U ( ) FFT U (t ) H ( ) Z ( ) (1.1) I ( ) FFT I (t ) Với đối tượng là bề mặt trái đất phép đo được thực hiện với thí nghiệm hiện trường - (TNHT) hay khảo sát thực địa - (KSTĐ), không phải trong phòng thí 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Do đó, bài toán đối với phương pháp đo cho TNHT khác với bài toán đo tổng trở cơ bản ở chỗ áp dụng cho đối tượng là nửa không gian vô hạn, đồng nhất hoặc phân lớp dọc, ngang và phải tính đến các hiệu ứng ghép cặp điện cảm và điện dung hay hiệu ứng ghép cặp điện từ - (EMC) gây ra. Trong trường hợp lý tưởng, xét hệ thí nghiệm gồm vật dẫn điện chiếm nửa không gian đồng nhất, trên đó có gắn bốn điện cực bao gồm hai điện cực phát dòng và hai điện cực thu thế phản hồi.
Hệ điện cực trên tạo thành hai lưỡng cực điện như trên hình 1. Sơ đồ nguyên lý phép đo tổng trở hiện trường Tổng trở Zmeas() được tính qua định luận Ohm qua các giá trị đo được của cường độ dòng điện I() và U(). Với nửa không gian đồng nhất và dòng điện dịch trong không khí bỏ qua được thì: 1 ( ) Q r Q( C1P1 ) Q( C2 P1 ) Q( C1P2 ) Q( C2 P2 ) (1.3) 2 ( )r 2 r 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là hàm phản ánh thông tin cấu trúc bề mặt của đối tượng (mặt đất), r là khoảng cách giữa hai phần từ ds và dS, () là độ dẫn điện và *()=1/*() là điện trở suất phức.4) 2 r r 2 là hàm số đặc trưng cho trở kháng liên kết đặc trưng cho ghép cặp điện từ EMC giữa hai dây với mặt đất [161, 162], i0 1/2 là hằng số điện soáy với: là tần số góc, 0 là hằng số từ thẩm chân không. Tuy nhiên, trong thực tế khi vỏ trái đất bị phân lớp và / hoặc dị hướng, dạng Z được đưa ra bởi phương trình (1.2) vẫn còn hiệu lực nhưng P(r) và Q(r) có dạng phức tạp hơn [38, 65, 161, 163] i0 TE P r R J 0 r d (1.5) 4 0 u0 u0 i0 Q r 2 4 k0 0 u0 1 RTE RTE RTM J 0 r d (1.6) u0 Với u0 2 k02 và k02 2 0 0 , k0 là hằng số truyền của chân không, J0 là hàm Bessel bậc 0 và là biến tích phân.
RTE và RTM là hệ số phản xạ cho mode điện trường và từ trường ngang. Những tham số đó phụ thuộc vào sự phân lớp của bề mặt và tính chất điện từ của mỗi phân lớp. Phương trình (1.1) có thể viết dưới dạng: Z meas Z IP Z EM K , , * (1.7) Với C2 P2 2Q r * Z IP ( ) dsdS (1.8) C1 P1 sS K C2 P2 Z EM K , , ( ) P r cos dsdS (1.9) C1 P1 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó K là hệ số cấu hình cực (hệ số thiết bị) [15], ZIP, và ZEM, tương ứng là trở kháng của đối tượng gây ra phân cực và trở kháng do EMCE (cảm kháng và dung kháng). Hay có thể viết * Z meas Z EM K , , * (1.