CHƯƠNG 1.1 Lý do lựa chọn đề tài Trước đây lưới điện trung thế chủ yếu nhận nguồn từ các trạm 110kV, các bài toán bù công suất phản kháng tính toán theo hướng công suất chạy từ các trạm 110kV đến phụ tải để cải thiện hệ số công suất cosφ. Thời gian gần đây, với việc lắp đặt các hệ thống điện mặt trời mái nhà (hệ ĐMTMN) đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc vận hành bù công suất phản kháng trên lưới trung thế: khi không có các hệ ĐMTMN thì công suất tác dụng P và Q đều nhận từ các trạm 110kV, khi các hệ ĐMTMN tham gia vào lưới điện việc phát công suất P và Q của các hệ này đã làm thay đổi nhu cầu P và Q nhận từ trạm 110kV, gây ảnh hưởng đến hệ số cosφ ghi nhận tại các trạm 110kV (P tại các trạm 110kV giảm nhưng Q lại không giảm tương ứng làm cho hệ số cosφ giảm thấp, trong khi hiện tại, hệ số cosφ đang là một thông số để đánh giá tình hình vận hành của lưới điện). Do đó, việc đảm bảo hệ số công suất lưới điện trung thế là một yêu cầu đặt ra để đạt tiêu chí đánh giá lưới điện theo quy định.2 Mục tiêu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu phương pháp bù công suất phản kháng để đảm bảo hệ số công suất lưới điện trung thế trong điều kiện phụ tải thay đổi và có xét đến sự ảnh hưởng của các hệ ĐMTMN.3 Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung vào nghiên cứu phương pháp bù công suất phản kháng trên lưới điện trung thế dựa trên các mô hình toán với hàm mục tiêu và các ràng buộc để xác định vị trí đặt và dung lượng các giàn tụ bù nhằm đảm bảo hệ số công suất trên lưới điện 22kV khi phụ tải thay đổi và có xét đến ảnh hưởng của các hệ ĐMTMN.4 Đối tượng nghiên cứu Hệ số công suất trên lưới điện trung thế tuyến 474 Mỏ Cày – Hàm Luông với phụ tải có lắp đặt các hệ ĐMTMN.5 Phương pháp nghiên cứu Xây dựng mô hình toán với hàm mục tiêu và các ràng buộc để xác định vị trí lắp đặt và dung lượng các giàn tụ bù trung thế. Áp dụng mô hình xây dựng để tính toán trên lưới điện trung thế tuyến 474 Mỏ Cày – Hàm Luông.
TỔNG QUAN VỀ LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI TRUNG THẾ 2.1 Cấu trúc và đặc điểm của lưới điện trung thế 2.1 Định nghĩa lưới điện trung thế: Lưới điện trung thế là một phần của hệ thống điện, thực hiện nhiệm vụ phân phối điện năng từ các trạm trung gian, các trạm khu vực hay thanh cái của nhà máy điện cấp điện cho phụ tải. Lưới điện trung thế là khâu cuối cùng của hệ thống điện đưa điện năng trực tiếp đến người tiêu dùng [1][2]. Tính đến nay lưới điện trung thế đã phủ rộng khắp trên cả nước, tuy nhiên vẫn còn một số khu vực có địa hình khó khăn (miền núi, hải đảo, …) vẫn chưa được sử dụng nguồn điện lưới quốc gia mà người dân ở đó vẫn phải dùng điện từ các nguồn thuỷ điện nhỏ hoặc máy phát điện diesel và gần đây là các hệ thống điện mặt trời tích trữ.2 Đặc điểm của lưới điện trung thế: Lưới điện trung thế được phân bố trên diện rộng, thường vận hành không đối xứng và có tổn thất khá lớn. Qua nghiên cứu cho thấy tổn thất thấp nhất trên lưới điện trung thế vào khoảng 4% [2][3].
Vấn đề tổn thất điện năng trên lưới điện trung thế liên quan chặt chẽ đến các yếu tố kỹ thuật của lưới điện từ khâu thiết kế đến khâu vận hành. Do đó, từ cơ sở các số liệu về thông số lưới điện, tổn thất điện năng có thể đánh giá sơ bộ chất lượng vận hành của lưới điện trung thế. Lưới điện trung thế thời gian qua đã và đang được đầu tư phát triển rất mạnh mẽ, các Công ty Điện lực được phân cấp nhiều hơn về quản lý. Vì vậy, chất lượng vận hành của lưới điện trung thế được nâng cao rõ rệt, tỷ lệ tổn thất điện năng giảm tuy nhiên vẫn còn tương đối cao.1 Phân loại lưới điện trung thế: Lưới điện trung thế chủ yếu ở các cấp điện áp 6kV, 10kV, 22kV, 35kV phân phối điện cho các trạm biến áp trung thế/hạ áp và các phụ tải cấp điện áp trung thế [1][2].
Phân loại lưới điện trung thế trung thế theo 3 dạng: 4 - Theo đối tượng và địa bàn phục vụ, có 3 loại: lưới trung thế khu vực thành thị, lưới trung thế khu vực nông thôn, lưới trung thế xí nghiệp. - Theo thiết bị dẫn điện: lưới trung thế trên không, lưới trung thế cáp ngầm. - Theo cấu trúc, hình dạng: lưới hở (hình tia) có phân đoạn hoặc không phân đoạn; lưới kín (có mạch vòng) vận hành hở.2 Vai trò của lưới điện trung thế: Lưới điện trung thế làm nhiệm vụ phân phối điện năng từ các trạm biến áp trung gian, trạm khu vực hay thanh cái của các nhà máy điện cho các phụ tải điện. Lưới điện trung thế được xây dựng, lắp đặt phải đảm bảo khả năng có thể nhận điện từ một hoặc nhiều nguồn cung cấp và phân phối đến các hộ sử dụng điện.
Đảm bảo cung cấp điện tiêu thụ sao cho ít gây ra mất điện nhất, đảm bảo cho nhu cầu phát triển của phụ tải, đảm bảo chất lượng điện năng cao nhất về ổn định tần số và ổn định điện áp, … trong giới hạn cho phép. Lưới điện trung thế có tầm quan trọng đặc biệt đối với hệ thống điện khi: - Giữ vai trò rất quan trọng trong đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện cho phụ tải. Có đến 98% điện năng bị mất là do sự cố và ngừng cung cấp điện theo kế hoạch trên lưới điện phân phối. Mỗi sự cố trên lưới điện trung thế đều có ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt của nhân dân và các hoạt động kinh tế, xã hội.
- Trực tiếp đảm bảo chất lượng điện áp cho phụ tải. - Tỷ lệ tổn thất điện năng khá lớn: khoảng 40-50% tổn thất điện năng xảy ra trên lưới điện trung thế và tổn thất kinh doanh cũng xảy ra ở khu vực này. - Lưới điện trung thế gần với người dùng điện, do đó vấn đề an toàn điện cũng là rất quan trọng.3 Các phần tử chính của lưới điện trung thế: Các phần tử chủ yếu trong lưới điện trung thế bao gồm [2][3]: - MBA trung gian và MBA phân phối. - Thiết bị dẫn điện: Đường dây tải điện.
- Thiết bị đóng cắt và bảo vệ: Máy cắt, dao cách ly, cầu chì, chống sét van, aptomat, hệ thống bảo vệ rơ le, giảm dòng ngắn mạch. 5 - Thiết bị điều chỉnh điện áp: Thiết bị điều áp dưới tải, thiết bị thay đổi đầu phân áp ngoài tải, tụ bù ngang, tụ bù dọc, thiết bị đối xứng hóa, thiết bị lọc sóng hài bậc cao. - Thiết bị đo lường: Công tơ đo đếm điện năng ( đo công suất tác dụng và công suất phản kháng), đồng hồ đo điện áp và dòng điện, thiết bị truyền thông tin đo lường. - Thiết bị giảm tổn thất điện năng: Tụ bù.
- Thiết bị nâng cao độ tin cậy: Thiết bị tự động đóng lại, thiết bị tự đóng nguồn dự trữ, máy cắt hoặc dao cách ly phân đoạn, các khớp nối dễ tháo trên đường dây, kháng điện hạn chế ngắn mạch,. - Thiết bị điều khiển từ xa hoặc tự động: Máy tính điện tử, thiết bị đo xa, thiết bị truyền, thu và xử lý thông tin, thiết bị điều khiển xa, thiết bị thực hiện,. Mỗi phần tử trên lưới điện đều có các thông số đặc trưng (công suất, điện áp định mức, tiết diện dây dẫn, điện kháng, điện dung, dòng điện cho phép, tần số định mức, khả năng đóng cắt .) được chọn trên cơ sở tính toán kỹ thuật. Những phần tử có dòng công suất đi qua (gồm: MBA, dây dẫn, thiết bị đóng cắt, máy biến dòng điện, tụ bù .) thì thông số của chúng ảnh hưởng trực tiếp đến thông số vận hành (điện áp, dòng điện, công suất) nên được dùng để tính toán chế độ làm việc của lưới điện trung thế.
Các phần tử chỉ có 2 trạng thái: Làm việc và không làm việc. Một số ít phần tử có nhiều trạng thái như: Hệ thống điều áp, tụ bù có điều khiển, mỗi trạng thái ứng với một khả năng làm việc. Một số phần tử có thể thay đổi trạng thái trong khi mang điện (dưới tải) như: Máy cắt, aptomat, các thiết bị điều chỉnh dưới tải. Một số khác có thể thay đổi khi cắt điện như: Dao cách ly, đầu phân áp cố định.
MBA và đường dây nhờ các máy cắt có thể thay đổi trạng thái dưới tải. Nhờ các thiết bị phân đoạn, đường dây tải điện được chia thành nhiều phần tử của hệ thống điện. Không phải lúc nào các phần tử của lưới phân phối cũng tham gia vận hành, một số phần tử có thể nghỉ vì lý do sự cố hoặc lý do kỹ thuật, kinh tế khác. Ví dụ: 6 một số cụm tụ bù có thể cắt lúc phụ tải thấp tránh quá điện áp, một số thiết bị đóng/cắt ở vị trí giao lưới không làm việc để lưới điện vận hành hở theo điều kiện tổn thất công suất nhỏ nhất.4 Cấu trúc của lưới điện trung thế Cấu trúc của lưới điện trung thế bao gồm cấu trúc tổng thể và cấu trúc vận hành [2][3].
- Cấu trúc tổng thể: Là cấu trúc bao gồm tất cả các phần tử và sơ đồ lưới đầy đủ. Muốn lưới điện có độ tin cậy cung cấp điện cao thì cấu trúc tổng thể phải là cấu trúc thừa (đáp ứng khả năng N-1). Thừa về số phần tử, về khả năng tải của các phần tử, thừa về khả năng lập sơ đồ. Ngoài ra trong vận hành còn phải dự trữ các thiết bị thay thế và vật liệu để sửa chữa.
Trong một chế độ vận hành nhất định chỉ cần một phần của cấu trúc tổng thể là đủ đáp ứng nhu cầu, đa phần đó là cấu trúc vận hành. - Cấu trúc vận hành: Là một phần của cấu trúc tổng thể, có thể là một hay một vài phần tử của cấu trúc tổng thể và gọi đó là một trạng thái của lưới điện. Ngoài ra, cấu trúc lưới điện trung thế còn có thể có các dạng như: - Cấu trúc tĩnh: Với cấu trúc này lưới điện trung thế không thể thay đổi sơ đồ vận hành. Khi cần bảo dưỡng hay sự cố thì toàn bộ hoặc một phần lưới điện trung thế phải ngừng cung cấp điện.
Cấu trúc dạng này chính là lưới điện trung thế hình tia không phân đoạn và hình tia phân đoạn bằng dao cách ly hoặc máy cắt.