mở đầu của luận án ông viết “Quá khứ, hiện tại và thậm chí là các sự kiện sẽ diễn ra trong tương lai sẽ được phản ánh trong giá thị trường, nhưng thường cho thấy không có quan hệ rõ ràng giữa các thay đổi giá”. Tuy nhiên, luận điểm này của ông đã chưa được quan tâm một cách đúng đắn cho đến những năm của thập niên 50 thế kỷ trước. Sau đó một số tác giả khác đã tiếp tục theo đuổi vềEMH, trong đó phải kể đến Kendall (1953), Paul Samuelson (1965). Trongmột bài nghiên cứu của mình, Samueson có viết rằng: “Trong thị trường cạnh tranh, luôn có một người bán ứng với mỗi người mua.
Nếu ai đó có thể chắc chắn rằng giá sẽ tăng; thì nó đã tăng lên rồi”Những luận điểm như vậy thường được dùng để suy diễn rằng giá cả cạnh tranh chắc chắn sẽ được thể hiện trong các sự thay đổi giá… nó thể hiện là tuân theo bước ngẫu nhiên và không thể dự báo được. Sau này các tác giả đương đại đã chỉ ra những bằngchứng liên quan đến EMH cho đến những năm 1960 chính là giả thuyết về bước ngẫu nhiên (RWH - Random Walk Hypothesis) – giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá cả trong quá khứ và giá tương lai của cáctài sản (ngày nay ta thấy nó thuộc về EMH dạng yếu). Sau những năm 1960, lý thuyết về bước ngẫu nhiên tiếp tục được mở rộng sang EMH với sự xuất hiện của EMH dạng trung bìnhvà dạng mạnh. Lý thuyết về thị trường hiệu quả chính thức được biết đến và khái niệm thị trường hiệu quả lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1969 bởi tác giả Fama.
Theo đó, ông cho rằng “Thị trường hiệu quả là thị trường được điều chỉnh rất nhanh chóng bởi các thông tin mới”. Sau đó Fama đã tổng kết về EMH khá đầyđủ và chi tiết. Theo đó:“Một thị trường được coi là hiệu quả khi giá cả luônđược phản án đầy đủ bởi các thông tin có 2 sẵn”. Tuy vậy, cùng với khái niệm về thị trường hiệu quả như thế thì một loạt các đòi hỏi ngặt nghèo lại phải kèm theo đó; chẳng hạn người đầu tư phải có những hành động hợp lý một cách tuyệt đối, chi phí giao dịch rất nhỏ - gần như có thể bỏ qua, thông tin được lưu thông một cách hoàn hảo…và điều này trong thực tế thì khóxảy ra.
Vì thế, khái niệm về EMH không thể làm hài lòng tất cả giới nghiên cứu. Theo Jensen (1978) định nghĩa thị trường hiệuquả một cách gần thực tế hơn như sau: “Một thị trường hiệu quả là thị trường mà trong đó thông tin được phản ánh trong mức giá cho tới khi lợi ích biên của giao dịch khi có được thông tin đó không thể vượt quá chi phí biên của việc khai thác thông tin”. Hiện nay EMH được các tác giả phát triển không chỉ bằng việc đưa ra các khái niệm, các vấn đề lý thuyết, mà nó đã được áp dụng nhiều trong thực hành để kiểm định thực tế về tính hiệu quả của các thị trường chứng khoán. Từ đó có rất nhiều kết luận được rút ra thiết thực trong hoạt động của các TTCK nói riêng và thị trường tài chính nói chung.
Có một lượng lớn các bài nghiên cứu về việc có tồn tại tính hiệu quả ở các thị trường mới nổi hay không. Một vài thì bác bỏ giả thiết thị trường hiệu quả ở dạng yếu. Ví dụ, Wheeler và đồng sự (2002) đã không tìm ra được bằng chứng cho thì trường hiệu quả ở dạng yếu ở Trung tâm giao dịch chứng khoán Warsaw. Tương tự, Grieb và Reyes (1999) bác bỏ giả thiết thị trường hiệu quả cho toàn bộ các chỉ số thị trường và các chứng khoản đơn lẻ ở Brazil và Mexico.
Thêm nữa, Karemera và đồng sự (1999) thấy rằng chuỗi lợi nhuận chứng khoản ở Brazil, Chile và Mexico nhìn chung không tồn tại tính hiệu quả của thị trường; tương tự là các nghiên cứu của Mookerjee và Yu (1999) Groenewold và đồng sự (2003) và Lima và Tabak (2004) cho kết quả thị trường chứng khoán ở Trung Quốc không hiệu quả (dạng yếu); Abeysekera (2001) và Abraham và đồng sự (2002) bác bỏ tính hiệu quả của thị trường ở dạng yếu với thị trường chứng khoán ở Sri Lanka, Kuwait, Saudi Arabia và Bahrain. 3 Tuy nhiên, có vài nghiên cứu các cho ra các bằng chứng rằng thị trường chứng khoản ở các nước đang phát triển là hiệu quả. Dockery và Vergari (1997) nghiên cứu thấy rằng Trung tâm giao dịch chứng khoán Budapest tồn tại tính hiệu quả ở dạng yếu. Hơn nữa, một nghiên cứu của Karemera và đồng sự (1999) và Buguk và Brorsen (2003) ủng hộ giả thiết thị trường hiệu quả ở dạng yếu cho thị trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ.
Với Châu Phi, Dickinson và Muragu (1994), và Olowe (1999) thấy rằng thị trường chứng khoản Nairoi và Nigieria là hiệu quả ở dạng yếu. Seddighi và Nian (2004) cho kết quả rằng thị trường chứng khoán Thượng Hải là hiệu quả cho giai đoạn 04/01/2000 đến 31/12/2000. Nghiên cứu của Fawson và đồng sự (1996), Alam và đồng sự (1999) và Chang và Ting (2000) ủng hộ lý thuyết thị trường hiệu quả ở Đài Loan. Tương tự vậy, lý thuyết thị trường hiệu quả không thể bị từ chối với thị trường chứng khoán Hồng Kong (Alam và đồng sự (1999), Cheung và Coutts (2001), Karemera và đồng sự (1999), Lima và Tabak (2004)).
Hơn nữa, các kết quả nghiên cứu ở khu vực ASEAN (Indonesia, Malaysia, Thailand và Singapore) cho kết quả thị trường hiệu quả ở dạng yếu (Barnes (1986), Alam và đồng sự (1999), Karemera và đồng sự (1999). Với khu vực Nam Á, Sharma và Kennedy (1977) và Alam và đồng sự (1999) cho kết quả ủng hộ giả thiết thị trường hiệu quả với thị trường chứng khoán Bombay (Ấn Độ) và Dhaka (Bangladesh). Do đó, các kết quả là không nhất thống và phụ thuộc vào các thị trường khác nhau. Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường mới, do đó quá trình vận hành còn nhiều khó khăn và hạn chế, nhưng liệu chúng ta có thể kiếm được một tỷ suất sinh lợi vượt trội dựa vào những bất cập và yếu điểm của một thị trường mới nổi hay không, hay đây vẫn là một thị trường hiệu quả.
Bằng các phương pháp kiểm định: Kiểm định nghiệm đơn vị, Kiểm định tự tương quan, Kiểm định chuỗivà Kiểm định phương sai, với chuỗi dữ liệu từ ngày 02/01/2007 đến ngày 31/12/2013, tôi muốn kiểm tra xem liệu thị trường chứng khoán Việt Nam có các đặc tính của một thị trường hiệu quả ở dạng yếu hay không. 4 Tầm quan trọng của một thị trường hiệu quả Chúng ta cần phải hiểu rõ hơn là tại sao các thị trường cần phải hiệu quả,thị trườnghiệu quả sẽmanglại ích lợi gìcho thị trường tài chính nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng một thị trường hiệu quả, có một số ưu điểm nổi bật sau: - Khuyến khích người đầu tư tin tưởng vào thị trường và vì vậy họ sẽ rót vốn vào thị trường mà không để lãng phí nguồn lực. Người đầu tư luôn nghĩ rằng họ đang được tự do lựa chọn cơ hội cho chính mình, không lo ngại rằng vào bất kỳ lúc nào họ sẽ bị những rủi ro ngoài tầm kiểm soát.
- Khuyến khích phân phối một cách hiệu quả. Trong một thị trường hiệu quả, đồng vốn cũng sẽ tự tìm đến được những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả kinh tế thực sự. - Cải thiện thông tin thị trường và vì vậy tăng cơ hội trong đầu tư. Với một thị trường hiệu quả, thông tin được phản ánh vào trong giá cả một cách chuẩn xác và nhanh nhạy, đến lượt mình, thị trường hiệu quả cũng luôn cho thấy các thông tin thị trường là những thông tin cóđộ tin cậy cao, sẽ là kênh thu hút tốt các nguồn vốn đầu tư.
Như vậy, thị trường hiệu quả là cần thiết đối với tất cả các thị trường và người đầu tư. Tuy nhiên, mức độ hiệu quả và tác động của từng mức độ này đếntoànthịtrườnglạilàvấn đềlớnvàkhôngdễgìchúngtacóthểnhận biết được. Ý nghĩa của nghiên cứu lý thuyết thị trường hiệu quả Chúngtacóthểthấyrằngviệcnghiêncứuthịtrườnghiệuquả có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, cácnhà đầutư,.Trongcácthịtrườngchứngkhoán,nghiêncứuvề EMH thường tập trung vào phát triển lý thuyết thông quakiểm định, nhận dạng cụthể về các thị trường. Sau khi biết được kết luận thị trường có hiệu quả không, hiệu quả dạng nào mà các thành phần thị trường sẽ có những quyết định khác nhau cho các mục đích của mình.
5 Đối với các nhà hoạch định chính sách việc nắm được mức độ hiệu quả của thị trường các nhà hoạch định chính sách sẽ phải có các cách thức tác động đến các nhântố làm ảnh hưởng đến độhiệu quả của thị trường nhằm nâng cao tính hiệu quảcủa thị trường. Khi có kết luận rằng thị trường chưa hiệuquả, các nhà quản lý thị trường sẽ tìm ra nguyên nhân của sự không hiệu quả nằm ở đâu. Khi thịtrường không hiệu quả chứng tỏ yếu tố đầu cơ, gây nhiễu thị trường rất lớn, các điều kiện cơ bản cho thị trường hiệu quả chắc chắn bị vi phạm, vì vậy phải có các biện pháp kịp thời. Để trợ giúp cấp trên, các nhà hoạch định chính sáchcầncókiếnnghị đểhoànthiệnyếutốvĩmô,cơsởvậtchấtkỹthuật,…để địnhhướngchocácthànhphầnthamgiathịtrường,nhàhoạch định phải có các văn bản hướng dẫn cho các đối tượng, tạo những điều kiện cần thiết nhất để mọi người tham gia, tăng số tài khoản nhà đầu tư, tạo tính thanh khoản thị trường… Đối với các tổ chức trung gian tham gia thị trường như công ty chứng khoán, cácquỹ đầu tư,… sau khi biết được mức độ hiệu quả của thị trường cũng sẽ có những quyết định phù hợp nhằm tăng hiệu quả cho chính mình qua đó cũng làm tăng tính hiệu quả cho thị trường.
Đối với nhà đầu tư chứng khoán là thành phần chính quyết định đến sự thành bại của thị trường. Nhà đầu tư luôn tính toán để sao cho đồng tiền mình bỏ ra tham gia thị trường là an toàn và hiệu quả. Vì vậy,họ phải luôn trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để trở thành các nhàđầu tư khôn ngoan cạnh tranhliêntụcvớinhautrênthịtrường,tậndụngmọicơhội(tínhiệuthịtrường hiệu quả). Mặt khác, họ cũng phải biết sử dụng kiến thức như thế nào, các lý thuyết áp dụng trên thị trường ra sao cho phù hợp.
Không nên và không thể áp dụng một cách máy móc mọi lý thuyết trong mọi giai đoạn. Chằng hạn khi thị trường không hiệu quả thì có áp dụng phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản không, liệu các phân tích này không có ý nghĩavới thị trường hiệu quảmột cách lý tưởng, nhưng nếu thị trường hiệu quả ở một mức độ nào đó, các lý thuyết phân tích trên có tác dụng gì với họ không.