CHƯƠNG I: TONG QUAN TÀI LIEU 1. TINH HÌNH NGHIÊN CUU AU TRÙNG, CA CON Ở MOT SO KHU VUC CUA SONG TREN THE GIỚI 1. Tình hình nghiên cứu về thành phan và phân bố của ấu trùng, cá con trong hệ sinh thái cửa sông Giai đoạn sớm của cá đã được chú ý từ rất sớm từ thế ki XVIII và có vai trò quan trọng trong ngư loại học. Những thông tin về thành phần loài, số lượng và mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường nước đối với sự phân bố của chúng sẽ là cơ sở dé xác định thành phần khu hệ, xác định bãi đẻ, mùa sinh sản và tác động của các yếu tố môi trường tới giai đoạn sớm của cá [66].
Đây là những thông tin quan trong trong việc phát hiện nguồn giống nhằm bảo tồn và khai thác phù hợp trong từng thời điểm. Trên thế giới, ở khu vực cửa sông có nhiều nghiên cứu về cá được tiến hành theo những hướng khác nhau, nổi bật là thành phần loài và các giai đoạn phát triển của một số loài cá. Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng cửa sông có vai trò như vùng ương dưỡng của nhiều loài cá. Nồng độ muối và nhiệt độ tại cửa sông đã được chứng minh là các nhân tố quan trọng tác động đến sự xuất hiện, mật độ và tốc độ tăng trưởng của giai đoạn ấu trùng của các loài cá [85].
Tại khu vực Thái Bình Dương, rất nhiều nước đã đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu GDS của cá tại khu vực cửa sông, tiêu biểu là Nhật Bản. Tại đây, một số công trình được tiến hành ở các khu vực cửa sông phía trên của Vịnh Ariake [148], sông Shimanto (Shikoku) [83], sông Nagara (Honshu) [95]. đều cho thay sự phong phú, đa dang về thành phần loài cá ở các thuỷ vực này. Tại khu vực cửa sông Nagara (miền Trung Nhật Bản) xác định được 37 loài cá thuộc 27 họ [95]; khu vực ven bờ cửa sông Shimanto xác định được trên 100 loài thuộc 44 họ [83].
Đồng thời, các nghiên cứu đều chứng minh cửa sông có vai trò như bãi đẻ và vùng ương dưỡng quan trọng của một số loài cá rộng muối và cá ven biển [83, 95, 149]. Ở cửa sông Nagara, đập có ảnh hướng lớn đến vùng ương đưỡng của các loài ấu trùng và cá con có mặt tại cửa đây [95]. Tại Trung Quốc, các nghiên cứu tiến hành ở cửa sông Trường Giang [105, 119] và sông Hoàng Hà [149] đều cho thấy sự phong phú và độ đa dạng cao về thành phần các loài cá con ở GDS. Tại cửa sông Trường Giang, đã xác định được hơn 79 loài cá thuộc 50 giống, 37 họ [119].
Tại cửa sông Hoang Hà thu được trứng của 20 loài và ấu trùng của 23 loài, trong đó chủ yếu là các loài thuộc bộ cá Vược Perciformes (51,2%), bộ cá Trích Clupeiformes (25,6%) [149]. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng vùng cửa sông chính là bãi đẻ, vùng ương dưỡng lý tưởng cho các loài cá. Các loài cá ở đây chịu ảnh hưởng của đập và số lượng loài cũng như sự phong phú, sự phân bố của chúng có mối quan hệ với nồng độ mudi. Ở cửa sông Trường Giang, sự phân bố của ấu trùng, cá con phụ thuộc vào độ sâu của nước, nồng độ muối và nồng độ các chất lơ lửng [105].
Tương tự, ở cửa sông Hoàng Hà, theo không gian, nồng độ muối là yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phân bố, số lượng loài và chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H’) của quan xã trứng và ấu trùng cá. Ngoài ra, yếu tố nhiệt độ nước tỉ lệ thuận với số lượng và sự phong phú của trứng và ấu trùng cá [149]. Tại Malaysia, Ailin Ooi et al.934 ấu trùng cá đại diện cho 19 họ ở vùng cửa sông Sangga Kecil (khu bảo tồn rừng ngập mặn Matang) và khu vực ven biên liền kề từ tháng 5 năm 2002 đến tháng 10 năm 2003, đồng thời nhận thấy cấu trúc thành phần ấu trùng, cá con ở đây phụ thuộc chính vào nồng độ muối, độ đục và động vật nổi [67]. Lưu vực sông Mê Kông là một trong những khu hệ cá đa dạng nhất thế giới, với khoảng 850 loài cá được ghi nhận.
Tuy nhiên có rất ít công bố về giai đoạn sớm của các loài cá này. Poulsen et al. Tại Thái Lan, Surasak et al. Tại khu vực Dai Tay Dương, các nghiên cứu GDS của cá đã được tiễn hành rất nhiều ở khu vực cửa sông.
Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, khu hệ ấu trùng, cá con ở cửa sông rất phong phú. Đồng thời, cửa sông có vai trò như vùng ương dưỡng của các loài cá. Sự phân bố ở GDS của cá tại một số cửa sông đã được tiến hành nghiên cứu như cửa sông Cayenne (Nam Mỹ) [70], hệ thống sông Amazon [103], các cửa sông châu Âu (bao gồm 38 khu vực chuyên tiếp ở tất cả các vĩ độ, các cửa sông Đông Bắc Đại Tây Dương, đầm phá Địa Trung Hải và vịnh hẹp Scandinavia) [69], cửa sông Đông Bắc Brazil [78], cửa sông Pando [68], bảy đầm phá nước lợ nằm đọc theo bờ biên Dai Tây Dương của Mexico [99]. Kết qua cho thấy: Tại đa số tại các cửa sông, nồng độ muối và lưu lượng nước ngọt vào cửa sông ảnh hưởng đến sự tập trung của ấu trùng, cá con.
Tại các cửa sông phía Đông Bắc Brazil, sự phân bố ở GDS của cá lại chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều [78]. Tại cửa sông Pando trên bờ biển Uruguay, khi tiến hành phân tích tập hợp cá ở cửa sông ôn đới đã nhận thấy, ngoài nồng độ muối, nhiệt độ nước cũng ảnh hưởng đến số lượng và sự phân bố của quần xã cá [68]. Ở các cửa sông khu vực An Độ Dương, các nghiên cứu về GDS cũng được tiến hành từ sớm. Tại Nam Phi, ở vùng lướt sóng Vịnh Swartvlei, Whitfield et al.
(1989) đã xác định được 6 họ trong đó Gobiidae, Soleidae, Sparidae và Mugilidae chiếm ưu thế. Nghiên cứu cho thấy, giai đoạn sau ấu trùng của một số loài (bao gồm sáu loài phô biến nhất) đã sử dụng cửa sông Swartvlei như vùng ương dưỡng [144]. Nong độ muối, nhiệt độ nước và độ đục là 3 nhân tố quyết định đến sự xuất hiện giai đoạn sớm của cá ở 3 cửa sông phía Nam châu Phi [145]. Brinda et al.
(2010) xác định được đa dạng thành phần loài cá con và sự biến động theo mùa của các loài cá ở cửa sông thuộc vùng ven biển Đông Nam An Độ. Các nhân tố nhiệt độ, nồng độ muối và chế độ gió mùa ảnh hưởng đến sự xuất hiện các loài cá tại đây. Nong độ muối, nhiệt độ, độ trong của nước và nồng độ oxy có liên quan với sự xuất hiện của ấu trùng ở Vịnh Pensian [74]. Pujiono et al.
(2020) đã nghiên cứu thành phần, sự phong phú và phân bố của âu trùng cá tại rừng ngập mặn, cửa sông và vùng xói mòn trên bờ biên phía Tây của Demak Regency. Kết quả nghiên cứu đã xác định được danh sách bao gồm 13 giống ấu trùng cá và chúng có sự phân bố khác nhau tại từng khu vực [115]. (2021) mô tả khu hệ au trùng va cá con cua cửa sông Mondego, bờ biển Tây Bắc của Bồ Đào Nha, đồng thời đánh giá vai trò là khu ương dưỡng đối với các loài cá biển. Kết quả cho thấy sự thay đổi theo mùa của mật độ và cầu trúc quan xã ấu trùng, cá con ở các khu vực giữa của cửa sông.
Nhiệt độ là yếu tổ môi trường quan trọng nhất ảnh hưởng tới cấu trúc quan xã ấu trùng và cá con. Vai trò ương dưỡng của khu vực cửa sông và ven biển là khác nhau đối với các giai đoạn đầu đời của các loài khi đang là ấu trùng, cá con. Đây là cơ sở khoa học để hiểu rõ hơn về vòng đời của cá [84]. Tình hình nghiên cứu về đặc điểm hình thái ấu trùng, cá con áp dụng trong phân loại và định loại cá ở giai đoạn sớm Vào giữa thé ky XIX, các nhà khoa học Anh và Đức đã bắt đầu quan tâm tới trứng cá, ấu trùng, cá con.
Nhưng tới khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với sự ra đời của các loại tàu khảo sát lớn và sự cải tiến về lưới thu mẫu, các nghiên cứu về GDS được tiến hành rộng hơn. Nhiều hướng nghiên cứu về GDS của cá được các nhà ngư loại học quan tâm, tiêu biểu là đa dang loài, phân loại học, sự phát triển của cá thé, các đặc điểm sinh thái học, các đặc điểm sinh sản, dinh dưỡng, sự di cư, môi trường sống và sự ảnh hưởng của các yếu tô môi trường tới sự phát triển của chúng. Các nghiên cứu về mô ta đặc điểm hình thái GDS được tiến hành chủ yếu tại nhiều khu vực thuộc các đại dương lớn. Nhiều nhất ở hai đại dương Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và ít nhất ở Nam Đại Dương.
Tại khu vực biển Thái Bình Dương, tiêu biéu có các công trình nghiên cứu của các tác giả Ahlstrom (1956, 1959, 1978) [63-65], Leis (1983, 1989) [100, 101], Kendall (1984, 2011) [93, 92], Moser (1996) [106], Okiyama (2013) [110], Ozawa (1986) [112]. Tại khu vực Dai Tây Dương, các tác giả đi đầu về hướng nghiên cứu này là Dannevig (1919) [76], Russell (1976) [120], Fahay (1983, 2007) [80, 81], Olivar (1991) [111], Richards (1985, 2006) [117, 118]. Tại khu vực An Độ Dương, tiêu biểu có nghiên cứu của nhóm tác giả Jones (1959, 1960) [87-90], Thangaraja (2014) [129]. Tai Nam Dai Dương, nỗi bật có Kellerman (1989) với hướng nghiên cứu về thành phan loài cá [91].
Một số nghiên cứu về mô tả hình thái ấu trùng, cá con trên thế giới được thé hiện ở bang 1. Sơ lược thông tin một số nghiên cứu về thành phần và mô tả các loài ấu trùng, cá con trên thế giới Địa diém Tác giả (Năm) Tổng số | Số loài đã có loài mô tả về ấu trùng, cá con Thá Bình | bắc Califonia Ahlstrom (1959, khoang 100 Duong 1978) Đông Bắc Kendall (1984) 592 263 Đông Moser (1996) 800 586 Tây Bắc Okiyama (1988) 3500 1181 Ozawa (1986) Đại Tây | Đông Bắc Russell (1976) 131 108 Duong Tay Bac Fahay (1983) 317 222 Fahay (2007) 1075 760 Dong Nam Olivar (1991) 239 141 Tây, trung tam, Bac | Richards (2006) 22351 9011 An Độ | Vùng biển nhiệt đới | Leis (1984) 3921 394 Dương An Độ- Tây Thái Bình Dương Khu vực ven biến |Mwaluma (2014) 633 Kenya Nam Đại Dương Kellerman (1989) 158 80 Thể giới Richards (1985) 20423 1932 Tại các nước trên Thế giới, việc sử dụng các đặc điểm hình thái áp dụng trong phân loại và định loại cá 6 GDS đã được sử dụng rộng rãi.