CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU VỀ CHI Passiflora L. Đặc điểm thực vật Giới : Plantae Bộ : Malpighiales Họ : Passifloraceae Chi : Passiflora L. Chi Lạc tiên (danh pháp khoa học: Passiflora L.) là một chi thực vật thuộc họ Lạc tiên (Passifloraceae).
Chi này có khoảng 500 loài. Chúng chủ yếu là cây dây leo, có một số là cây bụi, và một số loài là cây thân thảo. Ở Việt Nam, chi Lạc tiên có 15 loài. * Lạc tiên (Passiflora foetida L.) Loài Lạc tiên (Passiflora foetida L.) hay còn gọi là Nhãn lồng, Chùm bao), thuộc họ Lạc tiên (Passifloraceae), là một loại cây có lá và quả ăn được.
Mô tả cây: Dây leo bằng tua cuốn. Thân tròn, rỗng. Lá mọc so le, dài khoảng 7 cm, rộng tới 10 cm, chia làm 3 thùy nhọn. Lá kèm rách ở mép.
Tua cuốn mọc từ nách lá. Hoa trắng, có tràng phụ hình sợi, màu tím. Quả tròn, bao bởi các lá bắc tồn tại như là một cái bao ở ngoài. Sinh thái: Cây mọc leo ở các lùm bụi ven đường, bãi cỏ ven rừng, ở độ cao 120 – 1000 m so với mực nước biển.
Quả chín màu vàng, ăn được. Toàn cây có lông. Cây ra hoa vào tháng 4 – 5, có quả tháng 5 – 7. Phân bố: Cây phân bố ở khắp Việt Nam.
Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia. Công dụng: Ngọn non Lạc tiên được hái về làm rau luộc ăn hay nấu canh. Quả chín vàng ăn ngon. Lạc tiên được dùng trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, ngủ hay mơ, phụ nữ hành kinh sớm.
Lạc tiên còn được dùng trị ho, phù thũng, viêm mủ da, lở ngứa, loét ở chân. Ở Ấn Độ, nước sắc lá dùng để trị bệnh thiếu mật và hen suyễn; quả dùng gây nôn; lá dùng đắp và điều trị choáng váng và đau đầu [1]. Tình hình nghiên cứu chi Passiflora trên thế giới 1. Các nghiên cứu về hóa hỌc Từ lâu, các loài thuộc chi Passiflora đã được sử dụng như các loại thuốc thảo dược để chữa chứng lo âu, căng thẳng, mất ngủ.
Do đó, chi Passiflora được các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm nghiên cứu. Cho đến nay, có đến 48 loài của chi này đã được công bố về thành phần hóa học và một số loài trong đó cũng đã được công bố về hoạt tính sinh học. Thành phần hóa học chính của chi này là các hợp chất alkaloid, phenol, glycosyl flavonoid và cyanogenic. Flavonoid glycoside là lớp chất chính, được tìm thấy nhiều nhất trong các loài Passiflora cho đến nay.
Các nghiên cứu về hóa học đã chỉ ra rằng các hợp chất flavonoid và alkaloid có thể liên quan đến đặc tính chữa trị chứng lo âu của các loài Passiflora [2]. Một số biến đổi của các hợp chất flavonoid có thể xảy ra trong chi thực vật này quanh năm, và có nhiều phương pháp khác nhau để tăng nồng độ của các chất chuyển hóa này trong lá [3]. Các tài liệu đã chỉ ra rằng một số loài Passiflora có sự khác biệt về hàm lượng flavonoid C-glycoside, và những khác biệt này có liên quan đến đặc điểm nguồn gốc cụ thể của chúng. Ví dụ, isovitexin được tìm thấy với hàm lượng cao hơn ở P.
edulis [4], mặc dù hợp chất này không được phát hiện ở P. edulis trong nghiên cứu của tác giả Zucolotto và cộng sự [5]. Hợp chất iso-orientin là một trong những flavonoid chính được tìm thấy trong loài P. flavicarpa, nhưng nó chỉ được phát hiện ở nồng độ nhỏ ở P.
là loài được sử dụng rộng rãi và được tìm thấy nhiều nhất trong dược điển so với các loài cùng chi. Có 12 hợp chất flavonoid đã được tìm thấy trong loài này [2].