ĐẶT VẤN ĐỀ Voi Châu á (Elephas maximus) thuộc họ có vòi (Proboscidea), bộ có vòi (Proboscide) là loài thú lớn quý hiếm của thế giới và Việt Nam. Sách đỏ Việt Nam 2007 xếp mức [CR], Danh lục IUCN (2017) ở mức [EN], thuộc phụ lục I của Công ước CITES, nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, và có tên trong Nghị định 160/2013/NĐ-CP. Voi Châu á (Elephas maximus) đang bị đe dọa nghiêm trọng cả về số lượng cũng như sinh cảnh sống của loài. Đây là loài ưu tiên bảo tồn đặc biệt, nhận được sự quan tâm của các tổ chức bảo tồn trong và ngoài nước.
Điều này được thể hiện thông qua Quyết định số 763/QĐ-TTg ngày 21 tháng 5 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 2014- 2020”. Trong đó có kế hoạch khẩn cấp đến năm 2020 để bảo tồn voi ở Việt Nam. Sự suy giảm kích thước quần thể Voi ngoài tự nhiên có thể do nhiều nguyên nhân như săn bắn, mất sinh cảnh, buôn bán động vật trái phép … Trong đó mất và chia cắt sinh cảnh là một trong những nguyên nhân nghiêm trọng nhất. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thức ăn của voi sẽ giúp chúng ta năng cao hiểu biết về sinh thái thức ăn của loài, là cơ sở khoa học giúp phục hồi các sinh cảnh bị mất và chia cắt.
Tất cả những yếu tố trên là những nguy cơ ảnh hưởng đến bảo tồn Voi. Do vậy, để góp phần vào công tác bảo tồn Voi và hướng tới các mục tiêu hành động Quốc gia nói trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài cây làm thức ăn của Voi Châu Á (Elephas maximus) tại huyện Định Quán, Tân Phú tỉnh Đồng Nai”. Đề tài sau khi hoàn thành sẽ là cơ sở quan trọng cho công tác bảo tồn và phát triển các loài thực vật làm thức ăn cho Voi hoang dã trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Nghiên cứu về sinh cảnh Voi Châu Á trên thế giới 1. Đặc điểm và tình trạng Bộ Voi (Proboscidea) hiện nay chỉ có một họ Voi (Elephantiae) với 2 giống: giống Loxodonta ở Châu Phi có 2 loài (Loxodonta africana và Loxodonta cyclotis) và giống Elephas ở Châu Á có 1 loài (Elephas maximus). Voi Châu Phi (Loxodonta sp) có ngà ở cả Voi đực và Voi cái, tai rất lớn. Voi Châu Á (Elephas maximus) chỉ con đực mới có ngà.
Voi Châu Á có thân cỡ rất lớn, có thể dài tới 6m. Môi trên và mũi phát triển kéo dài thành vòi dài chấm đất. Hai răng cửa lớn phát triển thành ngà. Voi đực có hai ngà, mỗi ngà dài tới 150 cm, nặng 15-20 kg.
Có 12 răng hàm, các răng mọc sít nhau gần như một khối. Da dày, lông thưa, dài, cứng màu nâu xám (đôi khi trắng). Voi Châu Á sống ở rừng thưa, rừng thứ sinh pha tre nứa, xen lẫn các trảng cỏ trong các thung lũng hay các vùng đồi thấp. Độ cao phân bố lên tới 1500 – 1600 m so với mặt nước biển.
Thức ăn chủ yếu là cỏ, lá cây, cành cây nhỏ, măng tre nứa, cây chuối rừng. Chu kỳ sinh sản 4-5 năm 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con, thời gian mang thai 21-22 tháng. Voi sơ sinh nặng 90-100 kg, có thể cao tới 1m. Tuổi sinh sản khoảng 15-50 tuổi.
Tuổi thọ 80-90 năm hoặc hơn. Là loài thú lớn quý hiếm, Voi được thuần hóa để phục vụ cho đời sống: kéo gỗ, thồ hàng, dùng trong chiến trận, nuôi trong vườn thú, làm xiếc, Ngà Voi có giá trị xuất khẩu và làm hàng mỹ nghệ. Những nghiên cứu về loài Voi Châu Á ngoài tự nhiên chủ yếu tập trung ở lĩnh vực điều tra, đánh giá tình trạng và xác định vùng phân bố của loài. Tiêu biểu là các công trình: Alongkot Chukaew & Prawad Whohandee (2005) [32]; Li Zhang (2007) [39]; Sukumar và cộng sự (2001),.Tuy nhiên, những điều tra đánh giá này mới tập trung ở một số Quốc gia có số lượng cá thể Voi nhiều như; Sri- Lanka, Thái Lan, Ấn Độ, CamPuchia.
Do phạm vi nghiên cứu rộng (lãnh thổ toàn quốc) nên hầu như các nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc ước lượng số cá thể Voi trong từng vùng phân PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 bố, rất ít nghiên cứu mô tả được cấu trúc các quần thể loài, nghiên cứu các dạng sinh cảnh của voi và các loài cây rừng làm thức ăn cho voi. Theo Dự án Bảo tồn Voi Đăk Lăk thì Voi Châu Á có phân bố tự nhiên ở 13 nước Châu Á gồm: Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Nepal, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam; Với tổng diện tích phân bố là 486.1 : Số lƣợng Voi tự nhiên và thuần dƣỡng ở Châu Á Diện tích Voi hoang dã Voi nuôi dƣỡng TT Quốc gia phân bố (cá thế) (cá thế) (km2) 1 Bangladesh 1.500 250 – 500 - 3 Cam pu chia 40. Theo IUCN/SSC Asian Elephant Specialist Group, 2004 [31], hiện số lượng Voi Châu Á hoang dã còn tính khoảng từ 38.566 cá thể, phân bố nhiều nhất ở Ấn Độ với khoảng từ 23.900 cá thể, ít nhất ở Việt Nam với khoảng PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 76 – 94 cá thể. Cũng theo số liệu này, số lượng Voi Châu Á thuần dưỡng tập trung ở Ấn Độ, Srilanka, Bangladesh, Nepal và các nước Đông Nam Á như Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia và Việt Nam.
Trong đó số lượng Voi thuần dưỡng tập trung nhiều nhất ở Myanmar, Thái Lan, Ấn Độ, Lào, Campuchia, Sri Lanka. Ngoài ra, một số lượng Voi Châu Á hiện đang được nuôi dưỡng và chăm sóc trong các vườn thú ở nhiều quốc gia Châu Âu, Châu Mỹ. Theo thông tin của AZA/TAG/SSP Elephant (Association of Zoo & Aquarium/Taxon Advisory Group/ Special Survival Plan), tổ chức này hiện đang nuôi giữ và chăm sóc tổng số 139 cá thể Voi Châu Á (27 đực, 112 cái), tại 40 cơ sở của AZA [16]. Quản lý Bảo tồn Voi hoang dã Hiện nay môi trường sống của Voi hoang dã đang bị suy giảm nghiêm trọng ở các Quốc gia hiện còn loài này.
Việc môi trường sống thu hẹp hoặc chia cắt, nơi sinh sống bị mất; Nguồn thức ăn khan hiếm, nhiều loài thức ăn Voi ưa thích không còn; Hành lang di chuyển bị chia cắt, thay đổi hay bị mất từ đó việc gặp gỡ giữa những cá thể riêng biệt gặp khó khăn ảnh hưởng đến việc sinh sản tự nhiên của quần thể; Nạn phá rừng làm rẫy, canh tác nông nghiệp đã hủy diệt nhiều loài thức ăn của voi, làm thay đổi sinh cảnh của Voi. Môi trường sống bị ảnh hưởng kéo theo việc Voi trở lên hung dữ hơn, xung đột giữa Voi và Người xảy ra thường xuyên và hậu quả ngày càng nghiêm trọng hơn, có nhiều người bị Voi giết và Voi bị người dân xua đuổi nhiều hơn để bảo vệ mùa màng. Các nước có voi tự nhiên đều nhận thức được việc bảo tồn Voi và vấn đề hạn chế xung đột giữa Voi và Người. Tuy nhiên, nhiều nước không có đủ nguồn lực thực hiện.
Một số nước khác đã triển khai những nghiên cứu về Voi, nhưng chưa có chính sách hợp lý cho Bảo tồn Voi nên tính hiệu quả chưa cao, còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng. Vì vậy, tính cấp thiết hiện này là đòi hỏi cần có những hỗ trợ về mặt phương pháp, kỹ thuật, tài chính từ các tổ chức Bảo tồn Quốc tế, Chính phủ và phi Chính phủ để xây dựng chiến lược lâu dài, ổn định, bền vững cho các nước đang phát triển như Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Một số nước đi đầu trong công tác bảo tồn Voi đã xây dựng các trung tâm, mô hình Bảo tồn Voi đạt những kết quả nhất định. Các nghiên cứu về Voi ở các khu vực khác nhau ngày một hoan thiện hơn tạo cơ sở khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn.
Chiếm đến 60% số lượng Voi Châu Á. Thực trạng phân bố; một số dự đoán quần thể xác thực nhưng phần lớn thiếu chính xác Karanth & Sunquist (1992); Sukumar (1992); Trung tâm bảo tồn và nghiên cứu Voi(1998); Choudhury(1999); Bist (2003) [34]. Các báo cáo gần đây cho thấy ở Ấn Độ có tỷ lệ người tử vong cao nhất trong các cuộc xung đột giữa Voi và con người, với 200-250 người chết và khoảng 100 con Voi bị giết mỗi năm nguyên nhân chính là môi trường sống bị chia cắt nguồn thức ăn cho Voi vì thế cũng dần biến mất theo sự mất rừng, đặc biệt là săn bắt trái phép để lấy ngà và thực thi pháp luật rừng còn nhiều lỗ hổng, hạn chế trong chế tài xử phạt. Tuy nhiên, hiện nay số lượng loài này đang dần hồi phục [30].
Năm 1992 Chính phủ Ấn Độ đã thành lập 25 trung tâm Bảo tồn Voi trong cả nước với tổng diện tích 58.000 km2 với chiến lược là Bảo tồn môi trường sống của Voi và thiết lập các hành lang, tạo môi trường sống cho Voi. Dự án này cũng nhằm giải quyết xung đột giữa con người-Voi và nâng cao các lợi ích của Voi thuần hóa. Dự án Voi cũng đã thành lập tổ chức Giám sát việc giết hại Voi bất hợp pháp (MIKE), đây là chương trình của CITES. Các nghiên cứu về Voi ở Ấn Độ đã chú ý đến việc cần thiết nhằm gia tăng số lượng Voi đực, vì điều này liên quan đến tính bền vững của quần thể Voi tự nhiên.
- Malaysia: Số lượng khoảng 2351 – 3066 trong đó khoảng 1251-1466 ở Peninsula và khoảng 1100 - 1600 ở đảo Borneo. Voi của Borneo được coi như một phân loài riêng biệt, năm 2003 sau khi các nhà khoa học kết luận có sự sai khác về mặt di truyền của loài này. Borneo là khu vực có diện tích rừng lớn là nơi có Bảo tồn Voi hy vọng về sự gia tăng bền vững của đàn Voi trong tương lai. Voi Borneo được biết đến do sự di chuyển giữa Malaysia và Kalimantan một tỉnh của Indonesia.
Trong vòng 25 năm qua đã có khoảng 500 con Voi đã được di chuyển để làm giảm xung đột giữa người và Voi. Các giải pháp này đã tỏ ra thành công khi PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 hầu hết các con Voi sau khi di chuyển đều khỏe mạnh và đặc biệt làm giảm xung đột giữa Voi và Người. - Srilanka: Bảo tồn động vật hoang dã (Sri Lanka Department of Wildlife Conservation – DWLC) là cơ quan có thẩm quyền cao và chịu trách nhiệm theo dõi hoạt động bảo tồn Voi nói riêng và động vật hoang dã nói chung.