Tổng quan nghiên cứu

Quần thể voi châu Á (Elephas maximus) tại Việt Nam đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nghiêm trọng. Theo các đánh giá của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN), số lượng voi hoang dã trên cả nước từng suy giảm chỉ còn khoảng 76 đến 94 cá thể, phân bố phân tán tại 3 tỉnh trọng điểm là Nghệ An, Đắk Lắk và Đồng Nai. Tại khu vực Đồng Nai, các ghi nhận thực địa qua các giai đoạn dao động trong khoảng 11 đến 17 cá thể, sinh sống trên phạm vi sinh cảnh rộng hơn 34.000 ha thuộc vùng giáp ranh giữa Vườn quốc gia Cát Tiên, Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai và Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp La Ngà.

Vấn đề cốt lõi đe dọa sự tồn vong của loài là tình trạng sinh cảnh bị chia cắt, suy thoái nguồn thức ăn tự nhiên và sự gia tăng xung đột gay gắt giữa Voi và Người (HEC). Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định cụ thể các dạng sinh cảnh sống, thành phần các loài thực vật làm thức ăn tự nhiên và bổ sung, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật lâm sinh và quản trị bảo tồn bền vững.

Phạm vi không gian của đề tài tập trung tại hai địa bàn trọng điểm là huyện Định Quán và huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn khảo sát từ năm 2015 đến 2017. Về mặt giá trị thực tiễn, kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng để phục hồi các hành lang sinh cảnh, hướng tới mục tiêu giảm thiểu trên 80% các vụ xung đột mùa khô và bảo tồn nguồn gen quý hiếm thuộc Nhóm IB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP cũng như Quyết định số 763/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sinh thái học dinh dưỡng quần thể thú lớn và lý thuyết phân mảnh sinh cảnh (Habitat Fragmentation Theory). Một cá thể voi châu Á trưởng thành cần tiêu thụ từ 100 đến 200 kg sinh khối thực vật và từ 120 đến 200 lít nước mỗi ngày, dành từ 16 đến 20 giờ cho hoạt động tìm kiếm thức ăn. Khi sinh cảnh tự nhiên bị thu hẹp hoặc suy thoái, tập tính di chuyển tìm kiếm thức ăn tất yếu dẫn đến hiện tượng xâm lấn vùng canh tác nông nghiệp.

Mô hình nghiên cứu tích hợp các khái niệm học thuật cốt lõi:

  • Đa dạng sinh học thức ăn tự nhiên: Tập hợp các loài thực vật cung cấp sinh khối dinh dưỡng (thân, lá, vỏ, củ, quả, măng) đáp ứng nhu cầu duy trì thể trạng và phòng trị bệnh của loài voi.
  • Chỉ số giá trị quan trọng (IV% - Important Value Index): Thước đo phản ánh vai trò sinh thái của từng loài cây trong cấu trúc lâm phần, tính toán dựa trên trung bình cộng của tỷ lệ mật độ tương đối (N%) và tỷ lệ tiết diện ngang tương đối (G%).
  • Sinh cảnh trọng yếu (Critical Habitat): Các kiểu phụ rừng thứ sinh, rừng tre nứa và thảm thực vật đất ngập nước cung cấp đồng thời nguồn thức ăn và nước uống quanh năm.
  • Xung đột Voi - Người (Human-Elephant Conflict - HEC): Mối quan hệ tương tác tiêu cực phát sinh khi nhu cầu không gian sống và dinh dưỡng của voi xâm phạm trực tiếp đến tài sản, hoa màu và an toàn tính mạng của cộng đồng địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các phương pháp điều tra thực địa chuyên ngành và xã hội học lâm nghiệp:

  • Nguồn dữ liệu thực địa: Thiết lập hệ thống 14 tuyến điều tra khảo sát với tổng chiều dài 20,0 km (chiều dài mỗi tuyến dao động từ 0,4 km đến 2,6 km, cao độ biến thiên từ 73,3 m đến 256,7 m so với mực nước biển) đi qua các trạm kiểm lâm Đất Đỏ, Sa Mách, Tà Lài, Đắk Lua và Thanh Sơn.
  • Cỡ mẫu điều tra cấu trúc rừng: Bố trí 15 ô tiêu chuẩn (ÔTC) điển hình tạm thời với kích thước chuẩn 1.000 m2 mỗi ô (25 m x 40 m). Trong mỗi ÔTC, tiến hành đo đếm tầng cây cao (đường kính ngang ngực D1.3, chiều cao vút ngọn Hvn, chiều cao dưới cành Hdc) và bố trí 5 ô dạng bản (ÔDB) để đánh giá cấu trúc cây bụi, thảm tươi.
  • Cỡ mẫu phỏng vấn xã hội học: Thực hiện phỏng vấn sâu thông qua 55 phiếu điều tra cấu trúc, bao gồm 27 cán bộ kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, 20 cán bộ đại diện Ủy ban nhân dân hai xã Thanh Sơn và Tà Lài, cùng 8 đại diện hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại ấp 4 xã Tà Lài.
  • Phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn mẫu điển hình dọc theo các tuyến voi kiếm ăn thông qua dấu vết tươi (vết chân, bãi phân, cành gãy, vỏ cây bị tước) nhằm khắc phục trở ngại voi chỉ hoạt động vào ban đêm (từ 18 giờ tối đến 5 giờ sáng hôm sau).
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Ứng dụng phần mềm Microsoft Excel và SPSS để xử lý số liệu thống kê sinh thái; sử dụng công thức tính tổ thành loài theo Daniel Marmillod (1984) với ngưỡng loài ưu thế đạt IV% lớn hơn hoặc bằng 5%, giúp xác định chính xác các loài cây giữ vai trò quyết định trong sinh cảnh sống của đàn voi. Timeline nghiên cứu tập trung thu thập dữ liệu chuyên sâu qua cả hai mùa mưa và mùa khô trong các năm 2015 đến 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa dọc theo 14 tuyến điều tra đã thu mẫu, chụp ảnh và định danh chính xác 79 loài thực vật làm thức ăn tự nhiên của voi, thuộc nhiều họ thực vật đặc trưng như họ Cau dừa (Arecaceae), họ Hòa thảo (Poaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Gừng (Zingiberaceae) và họ Dâu tằm (Moraceae).

Công tác điều tra xã hội học qua 55 phiếu phỏng vấn đã bổ sung thêm danh lục 25 loài cây thức ăn, trong đó có 5 loài cây nông nghiệp giá trị cao voi thường xuyên lui tới kiếm ăn tại các nương rẫy như Xoài (Mangifera indica), Điều (Anacardium occidentale), Chuối (Musa paradisiaca), Dứa (Ananas comosus) và Mía (Saccharum officinarum).

Về bộ phận sử dụng, tập tính ăn uống của voi có sự phân hóa rõ rệt: thân non và lá chiếm tỷ trọng cao nhất với 58% tổng số loài được ghi nhận; vỏ cây chiếm khoảng 22%; rễ, củ và quả chiếm khoảng 20%. Đáng chú ý, nghiên cứu phát hiện voi sử dụng một số loài cây rừng có dược tính tự nhiên để hỗ trợ tiêu hóa và phục hồi sức khỏe.

Về phân bố sinh cảnh, voi xuất hiện và tìm kiếm thức ăn tập trung nhất tại 2 dạng sinh cảnh: rừng hỗn giao gỗ - tre nứa (tần suất bắt gặp dấu vết đạt trên 60%) và sinh cảnh rừng tre nứa thuần loài (Lồ ô, Le). Tại xã Thanh Sơn, diện tích cây ăn trái và hoa màu của người dân lên tới 787 ha xoài và 735 ha điều, nằm liền kề ranh giới lâm phần quản lý của Công ty Lâm nghiệp La Ngà, trở thành điểm đến thu hút voi kiếm ăn định kỳ vào mùa khô.

Thảo luận kết quả

Sự dịch chuyển không gian kiếm ăn của đàn voi gắn liền với tính chu kỳ của khí hậu nhiệt đới gió mùa tại Đông Nam Bộ. Trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), độ ẩm bình quân đạt 90%, thảm tươi và măng tre nứa phát triển mạnh mẽ, cung cấp trên 80% sinh khối thức ăn ngay trong vùng lõi rừng sâu. Ngược lại, vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), lượng bốc hơi đạt tới 840 mm, độ ẩm giảm sâu xuống 53%, nhiều khe suối nhỏ khô cạn khiến nguồn thức ăn tự nhiên xơ xác, buộc đàn voi phải di chuyển xuống các vùng trũng thấp ven sông Đồng Nai và hồ thủy điện Trị An.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu tại Vườn quốc gia Yok Đôn (ghi nhận 73 loài thức ăn) hay các báo cáo quốc tế tại Thái Lan và Ấn Độ, thành phần thức ăn của voi tại Đồng Nai có tính tương đồng cao về các nhóm loài cỏ cao họ Poaceae và thực vật thân ngầm họ Zingiberaceae. Tuy nhiên, mức độ phụ thuộc vào cây trồng nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu cao hơn hẳn do sức ép xâm canh và tỷ lệ đất canh tác xen kẹt lớn.

Để trực quan hóa các quy luật sinh thái này, cấu trúc rừng tại 15 ÔTC được biểu diễn thông qua biểu đồ phân bố tần số số cây theo cấp đường kính (N/D1.3 dạng hàm giảm chữ L), biểu đồ tương quan sinh trưởng chiều cao và đường kính (Hvn/D1.3), cùng phẫu đồ trắc diện đứng mô phỏng lát cắt không gian rừng 3 tầng tán. Cách trình bày này giúp các nhà quản lý nhận diện rõ tầng cây gỗ vượt tán (như Dầu, Bằng lăng, Sao) kết hợp với tầng cây thức ăn bên dưới (Lồ ô, Mây, Cau rừng) để định hướng các can thiệp lâm sinh phù hợp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực địa, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm bảo tồn bền vững nguồn thức ăn và giảm thiểu xung đột Voi - Người:

  1. Kiện toàn tổ chức và tuần tra giám sát: Thành lập quy chế phối hợp tuần tra liên ranh giới giữa Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà. Duy trì hoạt động 24/7 của Đội phản ứng nhanh tại 2 xã Thanh Sơn và Tà Lài, ứng dụng hệ thống định vị GPS để theo dõi hành trình di chuyển, phấn đấu giảm 85% các vụ xung đột bất ngờ trong vòng 12 đến 24 tháng.
  2. Đầu tư hạ tầng kỹ thuật chuyên dụng: Quy hoạch và xây dựng bổ sung 30 km hàng rào điện bán kiên cố tại các điểm xung yếu tiếp giáp vùng nương rẫy. Xây dựng 05 điểm cung cấp muối khoáng nhân tạo và nạo vét 08 hố nước trữ sinh thái trong vùng lõi rừng sâu trước năm 2020 nhằm giữ chân đàn voi trong mùa kiệt.
  3. Phục hồi và làm giàu sinh cảnh thức ăn: Triển khai khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung 500 ha các loài cây thức ăn ưa thích bản địa như chuối rừng, cỏ voi, lồ ô, le và các loài cây họ Dậu, họ Dâu tằm tại các diện tích rừng nghèo kiệt và hành lang di chuyển sinh thái.
  4. Hỗ trợ sinh kế cộng đồng và chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Ủy ban nhân dân các huyện Định Quán và Tân Phú phối hợp cùng các tổ chức tài trợ hỗ trợ bà con chuyển đổi 200 ha cây trồng thu hút voi (xoài, chuối, mía) sang các loại cây nông nghiệp không nằm trong khẩu vị của voi như cây có tinh dầu, ớt hoặc tràm. Thiết lập quỹ bảo hiểm rủi ro nông nghiệp và chi trả kịp thời 100% bồi thường thiệt hại hoa màu cho các hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, phục vụ thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học: Tài liệu cung cấp quy trình chuẩn mực về phương pháp điều tra gián tiếp dấu vết thú lớn, kỹ thuật thiết lập ô tiêu chuẩn thực địa và phương pháp tính toán chỉ số quan trọng IV% trong nghiên cứu sinh thái học thực vật.
  • Ban quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Các đơn vị quản lý voi hoang dã (như Cát Tiên, Yok Đôn, Pù Mát) có thể sử dụng trực tiếp danh lục 79 loài cây thức ăn tự nhiên để lập kế hoạch kỹ thuật làm giàu rừng, khoanh nuôi tái sinh và phục hồi chuỗi thức ăn cho các loài thú ăn cỏ lớn.
  • Cơ quan quản lý Nhà nước và Chi cục Kiểm lâm: Cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để các nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh và trung ương xây dựng quy hoạch hành lang đa dạng sinh học, bố trí nguồn vốn đầu tư hàng rào điện và xây dựng các chương trình bảo tồn khẩn cấp theo Quyết định số 763/QĐ-TTg.
  • Các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới bảo tồn quốc tế (WWF, IUCN, USAID): Tài liệu là nguồn dữ liệu thực chứng tin cậy để thẩm định hiệu quả các dự án hỗ trợ sinh kế vùng đệm, giảm thiểu rủi ro HEC và phân bổ ngân sách viện trợ cho các chương trình bảo tồn loài nguy cấp tại Đông Nam Á.

Câu hỏi thường gặp

Quần thể voi châu Á tại tỉnh Đồng Nai hiện có quy mô bao nhiêu cá thể và phân bố ở những khu vực nào?
Các đợt điều tra thực địa giai đoạn 2001 - 2016 ghi nhận quần thể voi Đồng Nai có khoảng 11 đến 17 cá thể, sinh sống trên diện tích hơn 34.000 ha trải dài qua Vườn quốc gia Cát Tiên, Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai và vùng rừng thuộc Công ty Lâm nghiệp La Ngà.

Voi châu Á tại Định Quán và Tân Phú chủ yếu tiêu thụ những bộ phận nào của cây rừng?
Khẩu phần ăn của voi bao gồm 6 nhóm bộ phận chính: thân non và lá (chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 58%), vỏ cây (chiếm 22%), măng tre nứa, rễ củ và quả chín (chiếm 20%), trong đó măng và thân non là thức ăn chủ lực trong mùa mưa.

Tại sao xung đột giữa Voi và Người (HEC) lại bùng phát mạnh mẽ nhất trong mùa khô?
Vào mùa khô (tháng 11 đến tháng 4), độ ẩm trong rừng giảm xuống 53%, các khe suối cạn nước và thức ăn tự nhiên xơ xác. Đàn voi buộc phải di chuyển ra vùng trũng ven sông và hồ Trị An, nơi có hàng trăm hecta vườn xoài, mía, chuối của người dân đang vào vụ thu hoạch.

Phương pháp điều tra gián tiếp cây thức ăn của voi được triển khai trên thực địa như thế nào?
Do voi thường kiếm ăn vào ban đêm (18h - 5h sáng), nhóm nghiên cứu bố trí 14 tuyến điều tra dài 20 km, lần theo dấu chân tươi, vết bẻ cành, bãi phân và vết tước vỏ cây để xác định chính xác 79 loài thực vật kèm tọa độ GPS định vị.

Biện pháp phi bạo lực nào hiệu quả nhất để ngăn chặn voi phá hoại mùa màng vùng đệm?
Giải pháp hữu hiệu nhất là kết hợp xây dựng hàng rào điện bán kiên cố tại ranh giới rừng - rẫy, bổ sung điểm muối khoáng và hồ nước trong rừng sâu, đồng thời chuyển đổi cơ cấu sang các loại cây nông nghiệp voi không ưa thích như cây tinh dầu và sả.

Kết luận

  • Luận văn đã định danh thành công danh lục 79 loài cây thức ăn tự nhiên qua 14 tuyến điều tra và bổ sung 25 loài cây qua phỏng vấn cộng đồng.
  • Làm rõ cấu trúc lâm phần và vai trò sinh thái của các loài ưu thế thông qua chỉ số IV% trên 15 ô tiêu chuẩn 1.000 m2 thuộc 6 dạng sinh cảnh sống.
  • Xác định nguyên nhân cốt lõi dẫn đến xung đột Voi - Người tại Định Quán và Tân Phú bắt nguồn từ sự khan hiếm thức ăn, nguồn nước trong mùa khô và sự phân mảnh sinh cảnh.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ việc thực thi hiệu quả Đề án tổng thể bảo tồn voi Việt Nam theo Quyết định số 763/QĐ-TTg của Chính phủ.
  • Đề xuất đồng bộ hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật: tổ chức quản lý, xây dựng 30 km hàng rào điện, làm giàu 500 ha rừng thức ăn và hỗ trợ sinh kế bền vững.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp bức tranh toàn diện về sinh thái dinh dưỡng của đàn voi Đồng Nai, làm cầu nối giữa nghiên cứu học thuật và hành động bảo tồn thực địa. Trong giai đoạn tiếp theo (2020 - 2025), các cơ quan quản lý cần mở rộng phân tích thành phần vi lượng và độc tố trong các loài cây thức ăn, ứng dụng bẫy ảnh tự động kết hợp phân tích ADN từ phân voi để giám sát sức khỏe bầy đàn.

Kính mời các nhà khoa học, nhà quản lý bảo tồn và các tổ chức phát triển cùng tham khảo, ứng dụng bộ dữ liệu của luận văn vào công tác quy hoạch bảo vệ tài nguyên rừng và đa dạng sinh học tại Việt Nam.