Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu khoảng 1.200.000 ha rừng núi đá, trong đó diện tích rừng che phủ đạt xấp xỉ 396.000 ha, phân bố chủ yếu tại 24 tỉnh thành phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Quần đảo Cát Bà có tổng diện tích tự nhiên 29.831,5 ha, bao gồm Vườn quốc gia Cát Bà rộng 12.239 ha và vùng đệm hơn 17.000 ha, đã được UNESCO chính thức công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào tháng 12 năm 2004. Hệ sinh thái rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đá vôi tại đây đóng vai trò xung yếu trong việc phòng hộ cảnh quan, bảo tồn nguồn gen và phát triển kinh tế du lịch sinh thái.

Tuy nhiên, do sức ép gia tăng dân số với mật độ bình quân khu vực vùng đệm đạt 127 người/km2, kết hợp với các hoạt động khai thác lâm sản quá mức và tập quán canh tác nương rẫy kéo dài nhiều thập kỷ qua, thảm thực vật rừng tự nhiên tại vùng đệm đã bị suy thoái nghiêm trọng. Phần lớn diện tích rừng nguyên sinh bị biến đổi thành các trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt, cấu trúc tầng tán bị phá vỡ, làm suy giảm khả năng tự phục hồi sinh thái.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện đặc điểm cấu trúc tầng cây cao, quy luật tái sinh tự nhiên và mức độ tác động của các nhân tố sinh thái tại ba trạng thái rừng thứ sinh gồm trạng thái phục hồi sau nương rẫy (IIB), trạng thái rừng nghèo kiệt (IIIA1) và trạng thái rừng trung bình (IIIA2). Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa tại vùng đệm Vườn quốc gia Cát Bà, thành phố Hải Phòng. Ý nghĩa thực tiễn của công trình là cung cấp hệ thống số liệu định lượng chuẩn xác, làm cơ sở khoa học để hoạch định các giải pháp kỹ thuật lâm sinh, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, nâng tỷ lệ sống của cây mục đích và bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên đa dạng sinh học độc đáo trên nền địa hình karst ven biển.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý thuyết phát sinh quần thể thực vật rừng nhiệt đới của giáo sư Thái Văn Trừng (1978), khẳng định thảm thực vật là tấm gương phản chiếu trung thực các điều kiện hoàn cảnh tự nhiên thông qua mối tương tác giữa sinh vật và môi trường sống. Bên cạnh đó, đề tài kế thừa lý thuyết diễn thế sinh thái phục hồi và quy luật tái sinh lỗ trống (Gap regeneration) được phát triển bởi các nhà khoa học lâm nghiệp quốc tế như Aubréville (1938), Van Steenis (1956) và Baur (1964).

Khung nghiên cứu tích hợp các khái niệm then chốt trong lâm học hiện đại:

  • Tổ thành loài cây: Biểu thị mức độ phong phú và tỷ lệ tham gia của từng loài trong lâm phần.
  • Chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value Index - IVI): Được xác định theo phương pháp của Daniel Marmillod, kết hợp giữa tỷ lệ phần trăm số cá thể và tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang để đánh giá vai trò sinh thái của loài.
  • Cấu trúc không gian và mật độ tầng tán: Phản ánh không gian dinh dưỡng và mức độ che phủ của vòm lá tầng trên.
  • Động thái tái sinh tự nhiên: Quá trình thay thế thế hệ cây già cỗi bằng lớp cây non thông qua con đường tái sinh hạt và tái sinh chồi.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra lâm học thực địa kết hợp điều tra chẩn đoán. Hệ thống mẫu nghiên cứu được thiết lập gồm 9 ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời điển hình với diện tích 1.000 m2 (50m x 20m) mỗi ô, đại diện cho 3 trạng thái rừng IIB, IIIA1 và IIIA2 (mỗi trạng thái bố trí 3 OTC). Tại mỗi OTC, tác giả thiết lập 5 ô dạng bản (ODB) có diện tích 25 m2 (5m x 5m) tại 4 góc và vị trí trung tâm để đo đếm chi tiết lớp cây tái sinh và thảm tươi cây bụi, hình thành tổng cỡ mẫu khảo sát gồm 45 ô dạng bản.

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu áp dụng toán học thống kê lâm nghiệp:

  • Cấu trúc tổ thành tầng cây cao được xác định theo công thức IV% của Daniel Marmillod, chỉ tính các loài có IV% ≥ 5% tham gia công thức tổ thành.
  • Mối liên hệ tương đồng giữa tầng cây cao và tầng cây tái sinh được định lượng qua chỉ số Sorensen (BC = 2w / (A + B)).
  • Phân bố thực nghiệm số cây theo đường kính (N/D1.3) và chiều cao (N/HVN) được mô hình hóa và kiểm định mức độ phù hợp lý thuyết bằng tiêu chuẩn Chi bình phương (Pearson Chi-square).
  • Mạng lưới phân bố không gian của cây tái sinh được phân tích theo quy luật phân bố Poisson dựa trên tỷ số giữa phương sai và số cây trung bình (S2 / Xbq).

Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ đặc thù địa hình núi đá vôi Cát Bà có độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh và tầng đất phân bố cục bộ, đòi hỏi phương pháp chọn mẫu phân tầng điển hình kết hợp các chỉ số toán học định lượng để loại trừ sai số tối đa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa ghi nhận tổng số 33 loài cây gỗ tham gia vào cấu trúc lâm phần qua cả ba trạng thái nghiên cứu. Tuy nhiên, mật độ tầng cây cao ở mức tương đối thấp, dao động từ 160 đến 240 cây/ha. Sự biến động về tổ thành và mật độ giữa các trạng thái phản ánh rõ các giai đoạn diễn thế phục hồi khác nhau:

  • Trạng thái IIB: Mật độ bình quân đạt 229 cây/ha với sự góp mặt của 11 loài cây gỗ. Trong đó có 6 loài tham gia công thức tổ thành gồm Kim giao, Ô rô vàng, Trâm sánh, Trọng đũa tuyến, Mé cò ke và Lòng mang cụt. Loài Kim giao chiếm ưu thế tuyệt đối với chỉ số IV% đạt 33,92%, tiếp theo là Trâm sánh đạt 17,26% và Ô rô vàng đạt 12,52%. Tổng giá trị quan trọng của 6 loài chủ chốt này chiếm tới 88,38% lâm phần.
  • Trạng thái IIIA1: Mật độ bình quân đạt 203 cây/ha với 16 loài xuất hiện. Có 7 loài chủ đạo tham gia công thức tổ thành gồm Kháo xanh, Chẹo tía, Thị rừng, Đa quả vàng, Ba gạc, Lát hoa và Ô rô vàng. Loài Kháo xanh chiếm ưu thế cao nhất với IV% đạt 28,12%, tiếp đến là Chẹo tía đạt 12,30% và Thị rừng đạt 11,07%. Tổng giá trị quan trọng của 7 loài đạt 75,00%.
  • Trạng thái IIIA2: Mật độ bình quân đạt 183 cây/ha nhưng có tính đa dạng loài cao nhất với 18 loài cây gỗ. 7 loài tham gia công thức tổ thành gồm Kháo xanh, Trâm sánh, Trám chim, Mé cò ke, Đa quả vàng, Chẹo tía và Mắc mật. Kháo xanh tiếp tục giữ ưu thế lớn nhất với IV% đạt 18,56%, kế tiếp là Trâm sánh đạt 13,37% và Trám chim đạt 11,46%. Nhóm 7 loài này chiếm 70,00% tổng mức độ quan trọng.

Quy luật phân bố số cây theo đường kính N/D1.3 tại cả 3 trạng thái đều tuân theo dạng đường cong phân bố giảm. Mật độ cây tập trung cao nhất ở cỡ đường kính nhỏ từ 6,9 cm đến 10,5 cm và giảm nhanh chóng khi cỡ đường kính tăng lên trên 23,1 cm.

Khảo sát địa hình cho thấy 6/9 ô tiêu chuẩn phân bố ở cấp độ dốc từ 20 đến 30 độ, nằm ở đai cao phổ biến 45 - 105 m so với mực nước biển. Tầng đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi có độ dày rất mỏng, chỉ từ 30 đến 40 cm tại sườn dốc và đạt 50 đến 100 cm tại các thung lũng dốc tụ tích tụ mùn.

Thảo luận kết quả

Khi biểu diễn các dữ liệu thực nghiệm trên đồ thị phân bố tần số N/D1.3, đường cong lệch trái dốc đứng là minh chứng rõ nét cho thấy cấu trúc rừng đang trong giai đoạn phục hồi trẻ. Sự thiếu vắng các cá thể cây gỗ lớn có đường kính trên 30 cm bắt nguồn từ các đợt khai thác chọn kiệt quệ trong quá khứ.

Quá trình thay thế loài diễn ra mạnh mẽ theo chiều hướng diễn thế đi lên. Khi thời gian phục hồi tăng từ trạng thái IIB lên IIIA2, số lượng loài tham gia lâm phần tăng từ 11 lên 18 loài, đồng thời chỉ số ưu thế của các loài cây tiên phong ưa sáng giảm dần (Kim giao từ 33,92% ở IIB giảm xuống, nhường chỗ cho Kháo xanh, Trâm sánh và Chẹo tía ở IIIA1 và IIIA2). Điều này hoàn toàn trùng khớp với quy luật động thái rừng mưa nhiệt đới được mô tả trong các nghiên cứu sinh thái học.

Bảng tổng hợp tiết diện ngang và mật độ cho thấy độ tàn che của tầng cây cao dao động trong khoảng 0,5 đến 0,7 là điều kiện môi trường tối ưu nhất. Ngưỡng tàn che này vừa đảm bảo độ ẩm tiểu khí hậu dưới tán để hạt giống nảy mầm, vừa cung cấp đủ lượng ánh sáng lọt tán để kích thích cây non vươn lên tầng cao, hạn chế sự chèn ép của cây bụi và dây leo nhiệt đới.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi hiệu quả và quản lý bền vững thảm thực vật rừng trên núi đá vôi vùng đệm Vườn quốc gia Cát Bà, hệ thống giải pháp kỹ thuật và chính sách quản lý được đề xuất cụ thể như sau:

  • Triển khai biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp làm giàu rừng: Tiến hành phát dọn dây leo, cây bụi xâm lấn cục bộ xung quanh các cá thể cây tái sinh triển vọng. Đồng thời, tra dặm bổ sung hạt giống và cây con của các loài cây bản địa có giá trị kinh tế và sinh thái cao như Kim giao, Lát hoa, Trai lý với mật độ 300 - 500 cây/ha tại các trạng thái IIB và IIIA1. Mục tiêu nâng tỷ lệ cây tái sinh mục đích đạt trên 70% sau 3 năm can thiệp; do Ban Quản lý Vườn quốc gia Cát Bà chủ trì thực hiện.
  • Điều tiết kỹ thuật độ tàn che tầng cây cao: Áp dụng phương thức tỉa thưa vệ sinh cục bộ các cây sâu bệnh, cây cong queo kém phẩm chất, duy trì độ tàn che ổn định ở mức 0,55 - 0,65. Giải pháp này giúp tối ưu hóa chế độ ánh sáng tán rừng, nâng tỷ lệ sống của cây con tái sinh lên trên 85% trong chu kỳ kiểm soát từ 2 đến 5 năm; do lực lượng kiểm lâm phối hợp với các tổ đội bảo vệ rừng cơ sở thực hiện.
  • Kiện toàn chính sách giao khoán bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường: Hoàn thiện hồ sơ giao khoán quản lý rừng gắn với sinh kế cho 100% hộ gia đình sinh sống tại các xã vùng đệm gồm Gia Luận, Phù Long, Hiền Hào, Xuân Đám và Trân Châu. Thiết lập mục tiêu giảm thiểu 95% tình trạng chặt phá rừng và chăn thả gia súc tự do trong vòng 12 tháng; do Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải chỉ đạo.
  • Đẩy mạnh phát triển sinh kế du lịch sinh thái cộng đồng: Xây dựng các mô hình kinh tế xanh phi nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu lao động từ khai thác tài nguyên rừng sang phục vụ dịch vụ du lịch trải nghiệm, phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người dân vùng đệm thêm 20 - 30% sau 3 năm triển khai; do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Sở Du lịch Hải Phòng điều phối.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực nghiệm trong luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý lâm nghiệp và Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên: Sử dụng tài liệu làm căn cứ khoa học trực tiếp để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, quy hoạch không gian bảo tồn đa dạng sinh học và lập dự án khoanh nuôi phục hồi hệ sinh thái núi đá vôi.
  • Cán bộ kỹ thuật lâm sinh và lực lượng kiểm lâm cơ sở: Vận dụng các chỉ số sinh thái, công thức tổ thành loài IV% và kỹ thuật điều tiết độ tàn che vào thực tiễn thiết kế biện pháp lâm sinh, xúc tiến tái sinh và phòng chống cháy rừng trên địa bàn quản lý.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Khai thác tài liệu như một mẫu hình nghiên cứu chuẩn mực về phương pháp luận điều tra thực địa trên địa hình karst, xử lý dữ liệu toán học thống kê mô hình phân bố cây rừng và phân tích cấu trúc thảm thực vật nhiệt đới.
  • Các tổ chức bảo tồn trong nước và quốc tế: Sử dụng nguồn số liệu định lượng về diễn thế sinh thái và thực trạng kinh tế - xã hội vùng đệm để xây dựng các chương trình tài trợ phục hồi cảnh quan rừng, phát triển sinh kế bền vững tại khu dự trữ sinh quyển Cát Bà.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao quá trình tái sinh tự nhiên trên núi đá vôi tại Cát Bà diễn ra chậm và khó khăn hơn so với rừng trên núi đất? Địa hình núi đá vôi có độ dốc lớn phổ biến từ 20 đến 30 độ, tầng đất feralit rất mỏng chỉ 30 - 40 cm và bề mặt lởm chởm đá tai mèo. Môi trường này giữ nước kém, thường xuyên khô hạn vào mùa đông khiến hạt giống khó tiếp xúc với đất ẩm, rễ cây con khó bám sâu, dẫn đến tỷ lệ sống sót thấp hơn nhiều so với đất rừng màu mỡ.

Loài cây nào giữ vai trò sinh thái chủ đạo trong tầng cây cao ở trạng thái phục hồi IIB tại vùng đệm Cát Bà? Kim giao là loài chiếm ưu thế sinh thái vượt trội nhất ở trạng thái IIB với chỉ số giá trị quan trọng IV% đạt 33,92% và mật độ 67 cây/ha. Sự chiếm ưu thế của loài cây lá kim quý hiếm này cho thấy khả năng thích nghi cao với điều kiện lập địa khắc nghiệt và là tín hiệu tích cực cho diễn thế phục hồi rừng tự nhiên.

Độ tàn che của tầng tán cây cao chi phối lớp cây con tái sinh như thế nào? Độ tàn che quyết định lượng ánh sáng lọt tán và độ ẩm vi khí hậu mặt đất. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh độ tàn che tối ưu cho cây tái sinh sinh trưởng dao động từ 0,5 đến 0,7. Độ tàn che vượt quá 0,8 làm cây con bị ức chế do thiếu sáng, trong khi độ tàn che dưới 0,4 kích thích cây bụi phát triển lấn át cây gỗ.

Quy luật phân bố số cây theo đường kính dạng giảm phản ánh điều gì về cấu trúc lâm phần? Quy luật phân bố giảm N/D1.3 cho thấy mật độ cây tập trung cao nhất ở cấp kính nhỏ 6,9 cm và giảm dần đều về phía các cấp kính lớn. Đồ thị này phản ánh lâm phần đang trong chu kỳ tái sinh liên tục, thế hệ cây non dồi dào sẵn sàng thay thế tầng cây trên, thể hiện tính ổn định tương đối của thảm thực vật phục hồi.

Giải pháp lâm sinh nào đạt hiệu quả kinh tế và sinh thái cao nhất cho rừng nghèo kiệt tại Cát Bà? Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có tác động kỹ thuật kết hợp tra dặm cây bản địa như Lát hoa và Kim giao là giải pháp ưu việt nhất. Biện pháp này giúp tiết kiệm khoảng 60 - 70% chi phí đầu tư so với trồng rừng mới, đồng thời bảo tồn nguyên vẹn cấu trúc tổ thành và tính thích nghi tự nhiên của hệ sinh thái bản địa.

Kết luận

  • Thảm thực vật rừng trên núi đá vôi vùng đệm Vườn quốc gia Cát Bà sở hữu tính đa dạng thực vật đáng kể với 33 loài cây gỗ tham gia vào cấu trúc tổ thành qua các giai đoạn diễn thế.
  • Các loài cây bản địa gồm Kháo xanh, Kim giao, Trâm sánh và Chẹo tía đóng vai trò chỉ thị sinh thái cốt lõi với chỉ số giá trị quan trọng IV% dao động từ 13% đến gần 34%.
  • Cấu trúc đường kính lâm phần tuân theo quy luật phân bố giảm, chứng minh khả năng tái tạo liên tục và tiềm năng phục hồi tự nhiên mạnh mẽ của quần xã thực vật.
  • Các nhân tố sinh thái gồm độ dốc 20 - 30 độ, tầng đất mỏng 30 - 40 cm và độ tàn che 0,5 - 0,7 là những thông số điều khiển then chốt cần can thiệp lâm sinh.
  • Kết hợp đồng bộ giữa khoanh nuôi làm giàu rừng, điều tiết tán che và ổn định sinh kế vùng đệm là lộ trình tất yếu để đảm bảo tính bền vững của hệ sinh thái.

Luận văn đã đóng góp hệ thống luận cứ khoa học định lượng chuẩn xác về cấu trúc lâm phần và động thái tái sinh tự nhiên trên đất đá vôi karst. Các đơn vị quản lý cần xây dựng kế hoạch thử nghiệm các giải pháp lâm sinh nêu trên trong giai đoạn 2026 - 2028 và thiết lập mạng lưới giám sát định kỳ 3 năm một lần. Độc giả và các nhà hoạch định chính sách hãy áp dụng ngay các phát hiện khoa học từ công trình này nhằm tối ưu hóa công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương.