ĐẶT VẤN ĐỀ Các loại kháng sinh có nguồn gốc từ thực vật ngày nay ngày càng được nghiên cứu và sử dụng nhiều trong quá trình phòng chống, chữa các bệnh cho con người và vật nuôi. Kháng sinh từ thực vật có nhiều ưu điểm hơn so với các loại kháng sinh tổng hợp đang được sử dụng rộng rãi như không có hiện tượng kháng thuốc, không có tồn dư trong các sản phẩm, dễ hòa tan và rất dễ sử dụng. Với ưu điểm vượt trội thảo dược ngày càng chứng minh được vai trò quan trọng của chúng như là một giải pháp an toàn thay thế các kháng sinh tổng hợp. Rẻ quạt, lá chanh, sả, quế được dân gian sử dụng để chữa rất nhiều bệnh và dịch chiết của chúng có khả năng diệt khuẩn rất tốt.
Ngoài ra, các nhà khoa học cũng ngày càng quan tâm về thành phần polyphenol và các hoạt chất chống oxy hóa có nguồn gốc thực vật do chúng có nhiều tác dụng tích cực trên sức khỏe. Do đó trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng khảo sát cả hàm lượng polyphenol và khả năng chống oxy hóa của các dịch chiết thu được từ những cây rẻ quạt, lá chanh, sả, quế. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU Chứng minh được tác dụng ức chế vi khuẩn của dược liệu rẻ quạt, lá chanh, sả, quế trên vi khuẩn. Khảo sát được hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa của các dịch chiết.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ CỦA VIỆC DÙNG THUỐC THẢO DƯỢC Việc phát hiện ra kháng sinh là một phát minh vĩ đại của nền y học thế giới, nó đã cứu được hàng triệu người trên thế giới. Nhưng ngày nay càng ngày càng có nhiều loại vi khuẩn kháng lại các loại kháng sinh từng tấn công tiêu diệt nó. Điều này đã gây ra rất nhiều khó khăn trong việc tiêu diệt nó lần nữa vì mỗi loại vi khuẩn sẽ có sự đáp ứng tương tự với mỗi loại kháng sinh khác nhau.
Từ xa xưa con người đã biết cách sử dụng thực vật xung quanh ta để làm thuốc trong vấn đề điều trị bệnh, những cây thuốc ấy được truyền lại từ đời này sang đời khác dựa vào những kinh nghiệm thực tế trong dân gian, đúc kết thành các bài thuốc có giá trị y học rất lớn cho sự phát triển Y học hiện nay. Ở xã hội hiện đại, máy móc kỹ thuật ngày càng phát triển, cùng với các tiến bộ khoa học, con người đã biết chiết xuất ra các hoạt chất chính có trong thảo dược để nâng cao hiệu quả phòng và trị bệnh. Dần dần, các nhà khoa học đã chế tạo được nhiều dược chất nhân tạo với số lượng lớn. Tuy nhiên vẫn khó có thể thay thế được vị trí của dược liệu thực vật trong phòng và điều trị bệnh, và thực tế tác dụng dược lý của cây thuốc cũng có một số khác với tác dụng của chế phẩm nguyên chất được tách ra từ cây thuốc ấy.
Thông thường cơ thể chịu đựng thuốc có nguồn gốc từ thực vật sống tốt hơn thuốc tổng hợp có sinh lý mạnh (Viện dược liệu số 5/2001). Trong những năm gần đây, khi dược lý học phân tử phát triển, khoa học đã chứng minh rằng: một hợp chất thiên nhiên tồn tại lâu trong tế bào sống của thực vật khi được phân lập và sử dụng để điều trị bệnh nghĩa là được chuyển lại vào tế bào sống khác, chất đó có khả năng dung nạp, thích nghi tốt và ít có tác dụng phụ hơn các chất tổng hợp hóa học, bên cạnh đó thuốc có nguồn gốc thảo mộc có giá thành rẻ, dễ sử dụng, ít độc hại, hạn chế tồn dự thuốc trong cơ thể,. MỘT SỐ THÀNH TỰU TRONG NGHIÊN CỨU THUỐC THẢO DƯỢC Việc nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của một số vị thuốc không đơn giản, vì trong một vị thuốc đôi khi chứa rất nhiều hoạt chất, những hoạt chất đó có lúc phối hợp hiệp đồng với nhau làm tăng cường và kéo dài tác dụng, nhưng đôi khi giữa chúng lại đối kháng nhau. Vì vậy, tác dụng của một dược liệu không quy hẳn về một thành phần chính.
Sự thay đổi liều lượng cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả chữa bệnh. Trong đông y thường sử dụng phối hợp nhiều vị thuốc, hoạt chất của các vị thuốc sẽ tác động với nhau làm cho việc nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị càng khó khăn. Nghiên cứu tác dụng dược lý của thuốc trên động vật thí nghiệm là một khâu hết sức quan trọng. Khi kết quả tác dụng dược lý phù hợp với những kinh nghiệm của nhân dân, chúng ta có thể yên tâm sử dụng những loại thuốc đó.
Trong trường hợp nghiên cứu một vị thuốc nhưng không có kết quả, chưa nên kết luận vị thuốc ấy không có tác dụng điều trị vì phản ứng của các cơ thể sinh vật là khác nhau. Chính vì thế, những kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm phải được xác định trên lâm sàng, mà những kinh nghiệm chữa bệnh của ông cha đã có từ hàng ngàn năm trở về trước là những kết quả thực tiễn có giá trị. Nhiệm vụ của chúng ta là tìm ra cơ sở khoa học hiện đại của những kinh nghiệm đó (Đỗ Tất Lợi, 1991). Đối với việc nghiên cứu và ứng dụng thảo dược có hiệu quả tốt trong phòng trị bệnh cho con người đã được nghiên cứu từ lâu và hiện đang rất phát triển, đối với việc nghiên cứu cho ra các thuốc thảo dược phòng trị bệnh cho động vật hiện còn rất khiêm tốn, chưa được quá chú trọng, quan tâm.
Tuy vậy, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng không phải là không có thành tựu về việc nghiên cứu thảo dược được áp dụng cho động vật. Ấn Độ đã tiến hành nghiên cứu trong quy mô phòng thí nghiệm với 3 loại thảo mộc Ocimum sanctum(os), withania somniera (ws) và Myristikfragrans(mf) có ảnh hưởng kháng lại loài vi khuẩn vibrio harvey gây bệnh trên cá Song 3 Epinephelus tauvina. Thí nghiệm được tiến hành với cá Song có trọng lượng 30±0,5g, 3 loại thảo mộc nêu trên được tách chiết trộn vào thức ăn cho cá ăn với các nồng độ tăng dần (100, 200, 400 và 800 mg/kg thức ăn). Các lô thí nghiệm đối chứng cho thấy tỷ lệ cá chết lên đến 100%, các lô thí nghiệm cho ăn với nồng độ 100, 200 đã giảm tỷ lệ chết 5%.Vậy bước đầu đã có kết quả tốt trong việc sử dụng Os, Ws, Mf có tính kháng vi khuẩn Vibrio harvey.
Ở Việt Nam, trong quá trình theo dõi tính kháng thuốc của vi khuẩn Salmonella, E.coli, tác giả Bùi Thị Tho (1996) cho biết các vi khuẩn trên kháng lại các thuốc hóa dược: Streptomycin, Neomycin, Chloramphenicol, Tetraxyclin,. rất nhanh, đồng thời còn xảy ra hiện tượng kháng chéo. Vậy nên tác giả Bùi Thị Tho đã sử dụng Phytoncid của Tỏi và Hẹ để điều trị bệnh do vi khuẩn E.coli và Salmonella do chưa thấy sự kháng Phytoncid của 2 loại khuẩn này. Trong phòng thí nghiệm thời gian tạo được chủng kháng Phytoncid của Tỏi và Hẹ phải lâu hơn từ 3-7 lần so với thuốc hóa dược trị liệu và sức kháng tối đa của chủng vi khuẩn khi đã kháng thuốc hóa dược trị liệu cũng rất cao.
Khi tăng nồng độ thuốc lên 120 lần thậm chí là cao hơn nữa đến 1300 lần so với nồng độ tạo kháng, vi khuẩn vẫn sống. Ngược lại, vi khuẩn kháng Phytoncid chỉ tăng nồng độ lên 5 lần so với nồng độ tạo kháng, vi khuẩn đã bị tiêu diệt. Hoại chất chính Rotenon trong cây Hột Mát có tác dụng điều trị ngoại kí sinh trùng cho gia súc như ve, ghẻ ở Bò, Chó. Trong Thuốc lá, Thuốc lào có chứa Ankaloid thực vật là Nicotin và Nornicotin trừ được ngoại ký sinh trùng và côn trùng hại rau, cây công nghiệp.
Phạm Khắc Hiếu và Lê Minh Hoàng (2001) đã chọn được một số dược liệu Việt Nam: Bạc hà, Kinh giới, Mần tưới có tác dụng tốt trong phòng và trị bệnh ngoại ký sinh trùng ong. Dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài các tác giả đã xây dựng được quy trình phòng trị bệnh ngoại ký sinh trùng tối ưu cho ong tỉnh Đắc Lắc. CÁC DƯỢC LIỆU SỬ DỤNG 2. Rẻ quạt Tên khác: Xạ can, lưỡi đồng.
Tên khoa học : Belamcanda sinensis. Hình ảnh 1: Rẻ quạt Là cây thân thảo có chiều cao khoảng 0,5m. Lá cây mảnh dẻ có thể dài đến 30cm và rộng 2cm. Các lá xen lẫn nhau tạo thành mặt phẳng và xòe ra như quạt nên được gọi là cây rẻ quạt.
Hoa rẻ quạt mọc thành cụm, mỗi bao ho có 6 mảnh vàng cam xen với đốm đỏ. Quả có màu đen bóng, có hình giống với trứng chim sẻ. Cây rẻ quạt được cả Đông y và y học hiện đại chỉ ra rằng có tác dụng chữa trị những bệnh lý sau đây: Viêm họng, viêm amidan viêm phế quản mãn tính, ho hen, hen suyễn, ho có đờm chữa trị bệnh quai bị, bí đại tiểu tiện, tắc sữa, sưng vú, chướng bụng, tích nước trong bụng 2. Lá chanh Tên khác: Chanh ta Tên khoa học: citrus aurantifolia Họ: Rutaceae 5 Hình ảnh 2: Cây chanh Chanh ta là loài cây bụi, cao khoảng 2 mét với nhiều gai.
Những giống chanh lùn thì phổ biến hơn đối với những nhà vườn; nó có thể được trồng trong nhà kính vì không chịu được thời tiết giá rét. Thân cây hiếm khi mọc thẳng mà tỏa nhiều nhánh từ nơi gần gốc. Lá hình trứng, dài 2,5-9 cm, nhìn giống lá cam (tên khoa học aurantifolia nhằm ám chỉ lá của cây này giống lá cam - C. Hoa chanh có đường kính 2,5 cm, màu trắng ngả sang màu vàng, có gân màu tím nhạt.
Cây ra hoa kết trái quanh năm nhưng ra quả nhiều nhất từ tháng Năm tới tháng Chín.Trái chín sau từ 5 tới 6 tháng khi hoa nở. Sả Tên khác: Sả chanh, cỏ sả, hương mao Tên khoa học:. Cymbopogon flexuosus Stapf Họ: Lúa Poaceae (Gramineae) 6 Hình ảnh 1: Cây sả Là dạng cây mọc theo dạng bụi, sống lâu năm với thân cao từ 1 – 1,5 m. Cây có thân rễ màu trắng xanh hoặc hơi tía.
Phiến lá dài khoảng 1 m, hẹp với các bẹ lá cuốn chặt vào nhau. Mép lá sờ hơi nhám và cò mùi thơm dễ chịu. Bẹ lá không có lông nhưng có sọc dọc. Hoa mọc thành cụm gồm nhiều hoa nhưng không có cuống 2.
Quế Tên khác: Quế thanh, ngọc thụ, nhụ quế, quế đơn, mạy quẻ (tày), kía (dao) Tên khoa học: Cinnamomum verum Họ: lauraceae 7 Hình ảnh 2: Cây quế Cây thân gỗ sống lâu năm, cao trung bình 18-20m, đường kính có thể tới 40-50cm, thân thẳng tròn, tán lá hẹp, vỏ màu xám nâu. Vỏ, lá có mùi thơm dễ chịu. Lá đơn mọc cách hoặc gần đối, thuôn dài có thể đến 20cm, rộng 4-6cm. Phiến lá cứng có 3 đường gân đặc trưng.