ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Chè là cây công nghiệp nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trƣởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm quanh năm, tập trung chủ yếu ở châu Á và châu Phi. Tuy nhiên ngày nay nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, cây chè đã đƣợc trồng ở nhiều nơi trên thế giới. Trong đó, ở nƣớc ta thì vùng trung du miền núi Bắc Bộ là một trong những vùng thích hợp cho việc sinh trƣởng phát triển của cây chè, Đặc biệt phải kể đến các vùng nhƣ: Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Thái Nguyên, Sơn La, Bắc Cạn.
Ngoài ra còn có một số địa bàn tỉnh khác nhƣ: Lạng Sơn, Hà Giang, Lâm Đồng… Thái Nguyên là một trong những đặc sản chè nổi tiếng và rất đỗi thân quen với mỗi ngƣời dân Việt Nam. Trong vùng chè Thái Nguyên rộng lớn, vùng chè Tân Cƣơng đƣợc coi là vùng cốt lõi bởi đây là nơi hội tụ các sản vật chè đặc biệt thơm ngon và nổi tiếng bao đời nay nhƣ: Chè Móc Câu, chè Nõn Tôm và đặc biệt là chè Đinh Ngọc. Để đạt đƣợc sản phẩm chè có chất lƣợng nhƣ trên, thì một loạt vấn đề về kỹ thuật đang đƣợc quan tâm, đó là vấn đề về kỹ thuật, đó là áp dụng đúng kỹ thuật gieo trồng và các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất chè phù hợp với từng giống. Việc sử dụng phân bón là một trong những biện pháp làm tăng sản lƣợng và chất lƣợng búp chè.
Thực tế cho thấy ngƣời dân sử dụng phân khoáng vô cơ nhiều, trong khi đó lại không sử dụng phân chuồng. Mặt khác nhiều hộ gia đình hay trại chăn nuôi đều sử lý bằng phân chuồng bằng hầm BIOGAS. Nếu sử dụng phân hóa học lâu dài sẽ giảm năng suất và chất lƣợng chè. Vì vậy phân hữu cơ sinh học đã đƣợc ngƣời dân đƣa vào sử dụng.
Để tăng hiệu quả trong sản xuất và phát triển, giải pháp tôt nhất là sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ. Khai thác tối đa nguồn hữu cơ tại địa phƣơng để cũng cấp dinh dƣỡng cho cây chè nhằm ổn định năng suất, chất lƣợng, năng suất, nâng cao hiệu quả kinh tế, qua đó góp phần giảm thiểu tối đa ô nhiêm môi trƣờng. Để từng bƣớc thay đổi quan 2 niệm trong việc cung cấp dinh dƣỡng cho cây trồng bằng phân hữu cơ vi sinh, giảm dần sự phụ thuộc vào phân hóa học để hƣớng tới một nền nông nghiệp sạch bền vững và lâu dài Năm 2016, Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã nghiên cứu sản xuất ra phân hữu cơ sinh học Nông Lâm 16, sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ là phân hữu cơ truyền thống ( nhƣ phân chuồng, phân xanh…) thì hiện nay có nhiều cơ sở sử dụng công nghệ sinh học để chế thành các loại phân hữu cơ sinh học từ các nguồn phân hữu cơ phong phú trong tự nhiên nhƣ than bùn, than hoạt tính, xác bã động vật…, Việc sử dụng phân hữu cơ sinh học góp phần quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và ngày càng đƣợc sử dụng phổ biến. Chính vì vậy, sử dụng phân bón hữu cơ sinh học là rất cần thiết cho cây chè.
Từ đó giúp cây chè sinh trƣởng phát triển tốt góp phần nân cao năng suất chất lƣợng chè. Bên cạnh đó sản phẩm chè chúng ta sản xuất ra chƣa thực sự đảm bảo “ độ sạch, an toàn” theo tiêu chuẩn, chất lƣợng chƣa cao, kém bền vững. Vì thế sử dụng phân hữu cơ sinh học đã đƣợc nông dân áp dụng để tăng hiệu quả sản xuất và phát triển kinh tế một cách toàn diện. Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, đƣợc sự hƣớng dẫn tận tình của giảng viên khoa Nông Học trƣờng đại học Nông - Lâm Thái Nguyên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của phân bón hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 đến sinh trƣởng phát triển chè đặc sản tại Tân Cƣơng – Thái Nguyên” 1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu của đề tài - Xác định liều lƣợng phân hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 hợp lý bón cho cây chè vùng chè Tân Cƣơng – Thái Nguyên đạt hiệu quả kinh tế cao. Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả trồng và sản xuất chè, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, đồng thời không gây ô nhiễn môi trƣờng. Yêu cầu của đề tài - Xác định ảnh hƣởng của liều lƣợng phân bón hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 đến khả năng sinh trƣởng phát triển cây chè. Xác định ảnh hƣởng của liều lƣợng phân bón hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 đến năng suất và chất lƣợng nguyên liệu chè.
- Xác định hiệu quả sử dụng phân bón hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 đến cây chè. Ý nghĩa khoa học của đề tài Trong quá trình thực hiện đề tài đã góp phần vào việc cải thiện quy trình, liều lƣợng bón phân cho cây chè tại Tân Cƣơng – Thái Nguyên, giảm dần lƣợng phân hóa hóc trong sản xuất chè, hƣớng tới một nền nông nghiệp bền vững. Kết quả nghiên cứu là tiền đề có giá trị cho khoa học nghiên cứu và ứng dụng cho ngƣời sản xuất. 4 PHÂN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cở sở khoa học của đề tài Phân hữu cơ sinh học là loại phân bón có nguồn gốc tự nhiên nhƣ: than bùn, bùn thải từ các ao hồ, rác thải trong sinh hoạt, các sản phẩm phụ nông nghiệp…qua quá trình phân giải tạo mùn cung cấp các nguyên tố cần thiết cho cây trồng, đồng thời có tác dụng cải thiện độ phì cho đất, bảo vệ môi trƣờng. Việc thử nghiệm các loại phân hữu cơ vinh sinh thay thế một phần phân khoáng bón cho cây chè là hết sức cần thiết. Trong sản xuất, có nhiều loại phân hữu cơ: –Nhóm phân hữu cơ truyền thống: bao gồm các loại phân gia súc, gia cầm nhƣ chất thải của trâu, bò, lợn, gà, vịt, dê, cừu. Các loại chất thải này nếu sử dụng nguyên chất thì có hàm lƣợng dinh dƣỡng khá cao.
Ví dụ, trong phân bò tƣơi có chứa chất đạm khoảng 0,341%, phân trâu có chứa 0,306% còn trong phân lợn có 0,669% chất N.[16] Nhƣng trong phân chuồng, do cần có lƣợng phân nhiều nên thƣờng cho thêm chất độn nhƣ rơm, rác, lá cây, cỏ… Hàm lƣợng dinh dƣỡng trong phân chuồng có nhiều hay ít tùy theo lƣợng chất độn đƣợc cho thêm vào, nhƣng chắc chắn là ít hơn phân nguyên chất rất nhiều. Ngoài các chủng loại phân nói trên ta còn có phân bùn ao, phân bùn của nhà máy đƣờng, phân xanh, phân rác các loại khác. Phân hữu cơ khoáng: Có hàm lƣợng hữu cơ phải chiếm từ 15% trở lên và tổng số N+P+K phải đƣợc 8% trở lên (8 – 18%).[16] Phân hữu cơ sinh học: Hàm lƣợng các axit Humic, Fulvic hay Humin hoặc tổng các axit amin, vitamin hay hợp chất sinh học khác phải đạt từ 5% trở lên. Phân hữu cơ vi sinh: Chất hữu cơ trên 15%, có ít nhất 1 vi sinh vật hữu ích có mật số bào từ ít nhất là 1,5 x 106/gr hoặc ml.[16] 5 Phân bón khoáng hữu cơ: Có chất hữu cơ chiếm từ 5 – 15%, chất khoáng khoảng 18% trở lên.[16] Phân vi sinh vật: Trong phân chứa ít nhất 1 chủng vi sinh hữu ích, có số bào tử sống tối thiểu 1,5 x 108.
[16] Việc chúng ta đƣa phân bón hữu cơ sinh học vào sản xuất để dần thay thế phân bón khoáng cho cây chè là hết sức cần thiết và dần dần loại bỏ các loại phân khoáng đối với cây chè, không chỉ có ý nghĩa quan trọng và tác động đến năng suất và chất lƣợng sản phẩm, qua đó còn cải môi trƣờng, cải thiện độ phì cho đất hƣớng đến một nên nông nghiệp bền vững. Trong quá trình chăm sóc, bón phân là một việc không thể thiếu đối với bất kỳ một loại cây trồng nào. Đối với chè cũng vậy, mỗi giống chè sẽ thích hợp với một loại phân bón và liều lƣợng khác nhau. Trên cơ sở đó chúng ta cần xây dựng một chế độ bón phân hợp lý, khoa học giúp cây chè sinh trƣởng, phát triển đạt năng suất cao, ổn định và có chất lƣợng tốt.
Cơ sở thực tiễn 2. Vai trò của phân bón đến năng suất và chất lượng cây chè Sản phẩm thu hoạch của chè là búp và lá non. Thời gian thu hoạch kéo dài, vì vậy cây chè có nhu cầu dinh dƣỡng lớn để sinh trƣởng, phát triển tốt. Do vậy khi bón nhiều các loại phân khoáng sẽ dễ dẫn đến mất cân đối hay thừa nguyên tố nào đó đều ảnh hƣởng đến sinh trƣởng phát triển của cây, sâu bệnh phát sinh nhiều dẫn đến năng suất và chất lƣợng giảm, đất càng ngày càng bị thoái hóa.
Việc bón phân cho chè đƣợc chú trọng để đảm bảo tăng năng suất, chất lƣợng chè cũng nhƣ bảo vệ nguồn tài nguyên đất. Cây chè có khả năng hút chất dinh dƣỡng liên tục trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng nhƣ chu kỳ phát dục cả đời sống của cây. Ngay cả trong điều kiện mùa đông nhiệt độ xuống hấp, khô hạn cây chè tạm ngừng sinh trƣởng nhƣng vẫn cần một lƣợng dinh dƣỡng nhất định. Vậy nên việc cung cấp dinh dƣỡng cho cây chè cần tiến hành thƣờng xuyên trong năm.
Với cây chè, phân vi sinh có vai trò rất quan trọng, vừa cung cấp đầy đủ chất dinh dƣỡng cho cây vừa cải thiện lý tính đất nhƣ làm đất tơi xốp, có kết cấu viên, 6 làm cho khả năng thấm và giữ nƣớc của đất, góp phần làm tăng hệ hoạt động của vi sinh vật trong đất, tăng hàm lƣợng các thành phần dinh dƣỡng trong đất: N, P, K, và các nguyên tố vi lƣợng, trung lƣợng… Những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, lĩnh vực nghiên cứu phân bón đã từng bƣớc có sự phát triển nhảy vọt đặc biệt đó là công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh. Phân bón hữu cơ vi sinh là sự kết hợp giữa than hoạt tính với các phế thải của nông nghiệp và phân chuồng, thêm một tỷ lệ thấp phân hóa học đạm lân và kali, làm cho đất tơi xốp, giữ ẩm tốt, dễ canh tác, đảm bảo tăng năng suất, chất lƣợng, hạn chế sâu bệnh, tăng độ phì nhiêu cho đất. Thế nhƣng, qua thực tế cho thấy, việc sản xuất chè của ngƣời dân chƣa thực sự đảm bảo “độ sạch, độ an toàn” theo tiêu chuẩn đƣa ra.