Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm thủ công tự phát tại các vùng nông thôn và ven đô đang diễn ra phổ biến nhưng thiếu sự kiểm soát chặt chẽ từ cơ quan quản lý và lực lượng thú y. Huyện Ứng Hòa là một trong những địa bàn cung cấp thực phẩm chủ lực cho thị trường thành phố Hà Nội, tuy nhiên tình trạng giết mổ nhỏ lẻ tại các khu dân cư đang bộc lộ nhiều bất cập nghiêm trọng. Các cơ sở này phần lớn không đáp ứng điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, không chứng minh được nguồn gốc vật nuôi, giết mổ trực tiếp trên nền nhà, sân gạch hoặc sát bờ sông. Quá trình sơ chế sử dụng trực tiếp nước sông để rửa thịt và xả thẳng toàn bộ máu, mỡ, nước thải, lông, phân cùng nội tạng chưa qua xử lý ra hệ thống mương rãnh công cộng. Nhiều hộ kinh doanh còn đóng bao xương tươi vứt xuống sông, làm suy thoái nghiêm trọng chất lượng nguồn nước sinh hoạt, phát tán mùi hôi thối và tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các dịch bệnh truyền nhiễm.

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Môi trường của tác giả Nguyễn Văn Tùng (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, người hướng dẫn: TS. Phan Đình Binh, năm 2014) được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn trên tại xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 4 nội dung cụ thể:

  1. Nắm bắt hiện trạng xả thải từ các địa điểm giết mổ gia súc, gia cầm thủ công trên địa bàn xã.
  2. Nhận biết rõ ràng tác hại do quá trình giết mổ gia súc, gia cầm đến môi trường.
  3. Đưa ra được những dự báo về chất lượng môi trường bị biến đổi trong tương lai do hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm.
  4. Đưa ra những giải pháp giảm thiểu các ảnh hưởng của nước thải và khí thải của hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm thủ công trên địa bàn xã.

Để hoàn thành mục tiêu, đề tài đặt ra 4 yêu cầu:

  1. Thông tin và số liệu thu được chính xác, khách quan, trung thực.
  2. Các mẫu nghiên cứu và phân tích phải đảm bảo tính khoa học và đại diện cho khu vực nghiên cứu.
  3. Đánh giá đầy đủ, chính xác chất lượng nước và khí thải của hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn xã.
  4. Giải pháp kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện tự nhiên và các cơ sở của khu vực.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nước thải và khí thải phát sinh từ các địa điểm giết mổ gia súc, gia cầm.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ ngày 20 tháng 01 năm 2014 đến ngày 30 tháng 04 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề tài vận dụng hệ thống cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quản lý môi trường và an toàn thực phẩm, bao gồm:

  • Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005.
  • Nghị định số 80/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
  • Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn.
  • Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT về việc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
  • Quyết định số 366/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012–2015.
  • Hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đối chiếu: QCVN 24:2009/BTNMT (quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp), QCVN 01-25:2009/BNNPTNT (quản lý chất thải trong cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm), Thông tư số 31/2010/TT-BNNPTNT, QCVN 01:2009/BYT, QCVN 09:2008/BTNMT, QCVN 14:2008/BTNMT, QCVN 15:2008/BTNMT và TCVN 5502-2003.

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa theo Luật Bảo vệ môi trường 2005 về môi trường (Khoản 1 Điều 3), ô nhiễm môi trường (Khoản 6 Điều 3), tiêu chuẩn môi trường (Khoản 5 Điều 3), sự cố môi trường (Khoản 8 Điều 3); phân loại ô nhiễm nước theo tính chất (sinh học, hóa học, vật lý), nguồn gốc (tự nhiên, nhân tạo) và nguồn phát sinh (nguồn điểm, nguồn diện). Đồng thời, đề tài tổng quan cơ chế tác động của các chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa và vi sinh vật gồm: màu sắc, mùi (NH3, H2S, Indol, Scatol), nhiệt độ, pH, DO, SS, BOD5, COD, Amoni (NH4+), Nitrit (NO2-) và Coliform.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và thực nghiệm được tiến hành đồng bộ qua các bước:

  • Phương pháp khảo sát thực tế: Điều tra 25 cơ sở giết mổ tại xã Phương Tú, ghi nhận trực tiếp công đoạn làm lông, mổ lòng, nguồn nước cấp, vị trí xả nước thải và bãi đổ chất thải rắn; thực hiện phỏng vấn hộ giết mổ và các hộ dân xung quanh.
  • Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu: Khai thác tài liệu thứ cấp từ UBND xã Phương Tú (năm 2013), Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ứng Hòa và các báo cáo ngành nông nghiệp.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên môn của cán bộ quản lý và giảng viên hướng dẫn.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích thí nghiệm:
    • Vị trí lấy mẫu: Tại cống xả thải cuối cùng của cơ sở trước khi chảy ra môi trường tiếp nhận bên ngoài.
    • Thời điểm lấy: Vào khung giờ cao điểm giết mổ từ 5 giờ 00 đến 6 giờ 00 sáng.
    • Quy trình thao tác: Dùng ca inox khử trùng bằng cồn 70% đốt nguội, múc nước thải gộp từ 3 lần lấy thành 1 mẫu đại diện (dung tích 100 ml). Mẫu phân tích vi sinh vật được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 1–5°C trong bình nhựa PE/PP vô trùng. Mẫu phân tích hóa học được cố định bằng dung dịch H2SO4 50% đưa về pH < 2 và bảo quản ở nhiệt độ thường.
    • Quy mô mẫu: Tổng số 4 mẫu nước thải phân tích, chia làm 2 đợt nhắc lại (mỗi đợt 2 mẫu: Mẫu 1 và Mẫu 2).
    • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm: Đo nhiệt độ bằng cặp nhiệt độ; pH theo TCVN 6492:2011; BOD5 theo TCVN 6001:2008; COD theo TCVN 4565:1988; SS theo SMEWW 2540B; Tổng Nitơ theo TCVN 5987:1995; Tổng Photpho theo TCVN 6202:2008; Coliform theo TCVN 6187:1996.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả xác lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự bùng phát các tụ điểm giết mổ tự phát ven đô không phép, gây ô nhiễm cục bộ nguồn nước và tiềm ẩn dịch bệnh nguy hiểm. Đặt ra 4 mục đích, 4 yêu cầu cụ thể, đồng thời khẳng định ý nghĩa học tập, ý nghĩa nghiên cứu khoa học và giá trị thực tiễn nhằm cung cấp số liệu thực chứng phục vụ quản lý môi trường tại cấp xã, nâng cao nhận thức cộng đồng.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết thực trạng hoạt động giết mổ trên quy mô cả nước và thành phố Hà Nội:

  • Toàn quốc: Mới có 37/63 tỉnh, thành phố được phê duyệt quy hoạch giết mổ tập trung; cả nước có 740 cơ sở giết mổ tập trung nhưng tồn tại tới 28.285 điểm giết mổ nhỏ lẻ (trong đó 10.566 điểm hoàn toàn nằm ngoài vòng kiểm soát thú y). Riêng 12 tỉnh trọng điểm phía Bắc có 11.544 điểm giết mổ nhưng chỉ có 59 cơ sở tập trung (chiếm 0,51%).
  • Thành phố Hà Nội: Có 7 cơ sở giết mổ công nghiệp (công suất thiết kế 112 tấn thịt gia cầm, 82 tấn thịt gia súc/ngày) nhưng có đến 5 cơ sở tạm ngừng hoạt động; 2 cơ sở còn lại chỉ chạy đạt 13,75% công suất thiết kế gia cầm và 5% công suất gia súc. Thành phố có 8 khu giết mổ tập trung nhưng chỉ cung ứng 15% nhu cầu gia cầm và 29,4% nhu cầu thịt lợn. Còn lại 100% thịt trâu bò, 85% thịt gia cầm và 70% thịt lợn tiêu thụ hàng ngày được cung cấp từ 1.860 điểm giết mổ nhỏ lẻ mùa vụ.
  • Phân tích cơ chế phát sinh chất thải: Mô tả chu trình gây ô nhiễm qua sơ đồ nước thải, khí thải và chất thải rắn. Nước thải từ công đoạn cạo lông, làm lòng chứa nhiều mỡ, máu, protein, thuốc bảo vệ thực vật tồn dư, vi khuẩn gây bệnh (Salmonella, Shigella). Chất thải rắn hữu cơ (phân, lông, phủ tạng) sau 36 giờ không thu dọn sẽ thối rữa, chuyển màu đen, bốc mùi khí độc (NH3, H2S, CH4) và tạo ổ phát sinh ruồi nhặng lây lan dịch bệnh cúm H5N1, H1N1, tai xanh.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tọa độ không gian tại xã Phương Tú, khung thời gian nghiên cứu (tháng 1 đến tháng 4 năm 2014); xác lập 3 nội dung trọng tâm (điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội, hiện trạng giết mổ, đánh giá chất lượng môi trường); mô tả kỹ thuật lấy mẫu gộp nước thải buổi sáng sớm, cách thức cố định hóa chất (H2SO4, HNO3) và danh mục tiêu chuẩn thí nghiệm.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Phương Tú: Tổng diện tích tự nhiên 1.017,05 ha (đất nông nghiệp 753,35 ha chiếm 74,07%; đất phi nông nghiệp 263,7 ha chiếm 25,93%; đất bãi thải chỉ có 0,36 ha). Dân số năm 2013 đạt 11.138 người với 2.990 hộ phân bố tại 6 thôn: Hậu Xá (464 hộ/1.628 khẩu), Dương Khê (481 hộ/1.739 khẩu), Nguyễn Xá (396 hộ/1.572 khẩu), Động Phí (522 hộ/2.003 khẩu), Phí Trạch (587 hộ/2.232 khẩu), Ngọc Động (540 hộ/1.964 khẩu). Lao động trong độ tuổi có 6.571 người (59% dân số), trong đó lao động nông nghiệp chiếm 67%. Cơ cấu kinh tế năm 2013: nông nghiệp 45,7%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 29,3%, dịch vụ - thương mại 25%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 10,97 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo là 10,98% (327 hộ).
  • Thực trạng hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm tại địa bàn xã:
    • Toàn xã có 25 cơ sở giết mổ, gồm 19 cơ sở gia cầm (76%) và 6 cơ sở giết mổ lợn (24%), không có cơ sở giết mổ trâu bò.
    • Phân bố: Thôn Động Phí tập trung nhiều nhất với 12 cơ sở (chiếm 48%), Phí Trạch có 5 cơ sở (20%), Nguyễn Xá có 5 cơ sở (20%), Hậu Xá có 3 cơ sở (12%); hai thôn Dương Khê và Ngọc Động không có cơ sở giết mổ.
    • Loại hình và quy mô: 100% cơ sở hoạt động theo mô hình hộ gia đình tự phát, phân tán xen cài trong khu dân cư.
    • Công suất giết mổ lợn: 100% cơ sở (6/6 cơ sở) có quy mô nhỏ dưới 5 con/ngày.
    • Công suất giết mổ gia cầm: 18/19 cơ sở đạt công suất trên 30 con/ngày (chiếm 94,74%), chỉ có 1 cơ sở đạt mức 15–30 con/ngày (chiếm 5,26%).
    • Nguồn nước sử dụng: 100% cơ sở (25/25 cơ sở) khai thác và sử dụng nguồn nước ngầm qua giếng khoan hộ gia đình, hoàn toàn không có nước máy hay giếng khơi.
  • Hiện trạng ô nhiễm môi trường do nước thải: Toàn bộ nước thải chưa qua xử lý được đổ thẳng ra mương tiêu thoát nội đồng hoặc kênh thủy lợi. Kết quả phân tích chất lượng nước thải qua 2 đợt cho thấy các chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ và vi sinh đều vượt quy chuẩn kỹ thuật QCVN 24:2009/BTNMT nhiều lần.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn diện tình hình ô nhiễm môi trường tại địa bàn nghiên cứu; chỉ rõ mức độ vượt chuẩn của từng thông số nước thải; đưa ra các kiến nghị mang tính mệnh lệnh hành chính đối với UBND xã Phương Tú và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ứng Hòa trong việc đình chỉ vi phạm và quy hoạch vùng giết mổ tập trung.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm đo đạc chất lượng nước thải tại các điểm xả giết mổ của xã Phương Tú qua 2 đợt phân tích (mỗi đợt gồm 2 mẫu lặp lại), đối chiếu với QCVN 24:2009/BTNMT (Cột A: nguồn tiếp nhận dùng cho cấp nước sinh hoạt; Cột B: nguồn tiếp nhận không dùng cho cấp nước sinh hoạt).

TT Thông số Đơn vị Lần 1 (Mẫu 1 - Mẫu 2) Lần 2 (Mẫu 1 - Mẫu 2) Giá trị trung bình QCVN 24:2009 (Cột A) QCVN 24:2009 (Cột B) Đánh giá mức độ vượt chuẩn
1 Nhiệt độ °C 40 – 40 40 – 40 40,0 40 40 Đạt quy chuẩn
2 pH - 8,00 – 7,92 7,78 – 7,71 7,85 6 – 9 5,5 – 9 Đạt mức trung tính cho phép
3 Mùi - Hôi, khó chịu Hôi, khó chịu Hôi, khó chịu Không khó chịu Không khó chịu Không đạt chuẩn
4 Màu sắc - Màu hồng đỏ máu Màu hồng đỏ máu Hồng đỏ máu 20 Co-Pt 70 Co-Pt Đục, nhiễm màu hữu cơ nặng
5 BOD5 mg/l 169,60 – 221,60 310,50 – 375,60 269,33 30 50 Vượt 8,98 lần cột A; 5,39 lần cột B
6 COD mg/l 471,20 – 583,20 970,40 – 916,00 735,20 50 100 Vượt 14,70 lần cột A; 7,35 lần cột B
7 Chất rắn lơ lửng (SS) mg/l 170,00 – 167,50 430,50 – 362,50 282,63 50 100 Vượt 5,65 lần cột A; 2,83 lần cột B
8 Tổng Nitơ (TN) mg/l 6,40 – 15,87 19,49 – 17,49 14,90 15 30 Đạt giới hạn cột A và cột B
9 Tổng Photpho (TP) mg/l 67,85 – 85,24 103,50 – 125,20 95,45 4 6 Vượt 23,86 lần cột A; 15,91 lần cột B
10 Coliform MPN/100ml 4,6x10⁴ – 4,6x10⁴ 2,8x10⁵ – 3,1x10⁵ 17,05x10⁴ 3.000 5.000 Vượt 56,83 lần cột A; 34,10 lần cột B

Về ô nhiễm không khí và chất thải rắn:

  • Khí thải bốc mùi hôi thối nồng nặc từ chuồng lưu nhốt và bệ giết mổ do phân hủy phân gia súc (lượng phân phát sinh lớn), giải phóng các khí độc như NH3, H2S, SO2, CO, NOx. Tiếng ồn phát sinh liên tục trong khung giờ rạng sáng do tiếng động vật bị nhốt và đập hạ.
  • Chất thải rắn gồm phân, phủ tạng, da, lông không được thu gom đúng cách, sau 36 giờ bắt đầu thối rữa, rỉ nước đen, ruồi bâu kín, tạo mầm bệnh nguy hại tương đương chất thải y tế.

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:

  • Giải pháp quản lý: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ứng Hòa phối hợp với đơn vị Thú y, Y tế tăng cường thanh tra, kiểm tra; xử phạt nghiêm minh các hộ xả thải trộm; kiểm soát thịt gia súc gia cầm tại chợ dân sinh để truy xuất nguồn gốc; siết chặt trạm kiểm dịch; phân bổ ngân sách thỏa đáng cho công tác bảo vệ môi trường cơ sở; thiết lập cơ sở dữ liệu đồng bộ về môi trường thành phố Hà Nội.
  • Giải pháp kỹ thuật: Khẩn trương quy hoạch, xây dựng khu giết mổ tập trung đáp ứng quy chuẩn; bố trí trạm xử lý nước thải chuyên biệt; định kỳ tổ chức quan trắc nước thải sau xử lý; đối với cơ sở hiện hữu bắt buộc lắp đặt hệ thống lọc sơ bộ, định kỳ nạo vét cống rãnh và thay vật liệu lọc; tiêu độc khử trùng toàn bộ chuồng lưu giữ ngay sau khi đưa con vật vào mổ; phun thuốc khử trùng phòng dịch; phân loại, thu gom triệt để chất thải rắn (lông, lòng phế phẩm, bao nilon) đưa đi tiêu hủy theo quy định.

Đóng góp của nghiên cứu: Khóa luận đã thiết lập bộ dữ liệu thực địa chi tiết về mạng lưới giết mổ tự phát tại xã Phương Tú, định lượng hóa mức độ ô nhiễm nước thải qua các thông số lý hóa và vi sinh cụ thể. Kết quả chứng minh sự mâu thuẫn lớn giữa quy mô công suất giết mổ gia cầm thương phẩm lớn (gần 95% cơ sở đạt trên 30 con/ngày) với hạ tầng kiểm soát chất thải hoàn toàn bằng không. Công trình cung cấp luận cứ thực tiễn trực tiếp cho chính quyền địa phương trong việc xây dựng đề án di dời cơ sở giết mổ nhỏ lẻ ra khỏi khu dân cư.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do điều kiện thực hiện:

  • Số lượng mẫu phân tích phòng thí nghiệm còn khiêm tốn (chỉ lấy 4 mẫu gộp qua 2 đợt đo đạc), chưa phản ánh được biến thiên nồng độ chất ô nhiễm theo từng tháng trong năm hoặc các dịp lễ tết khi công suất giết mổ tăng đột biến.
  • Đánh giá ô nhiễm không khí và chất thải rắn mới dừng lại ở mức độ khảo sát định tính, mô tả cảm quan và suy luận lý thuyết từ các nguồn thứ cấp; chưa có điều kiện đo đạc nồng độ các khí độc (NH3, H2S) hay vi sinh vật trong không khí xung quanh bằng máy đo chuyên dụng.
  • Nghiên cứu chưa thiết kế mô hình công nghệ xử lý nước thải cụ thể đi kèm bảng tính toán kinh tế kỹ thuật (chi phí đầu tư, vận hành) phù hợp với năng lực tài chính của các hộ dân nông thôn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quan trắc môi trường nước mặt, nước ngầm và môi trường đất tại các khu vực lân cận điểm xả thải theo chu kỳ nhiều mùa trong năm.
  • Triển khai lấy mẫu định lượng vi khí hậu và nồng độ khí độc phát tán từ khu vực giết mổ.
  • Nghiên cứu thực nghiệm các mô hình xử lý nước thải chi phí thấp (hầm biogas kết hợp bãi lọc ngầm trồng cây hoặc hồ sinh học) để áp dụng trực tiếp cho các hộ chăn nuôi và giết mổ nông thôn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Thú y và Y tế Công cộng: Học hỏi phương pháp tiếp cận điều tra xã hội học nông thôn, quy trình lấy mẫu gộp nước thải giết mổ ngoài hiện trường trong khung giờ sớm, kỹ thuật bảo quản mẫu hóa học bằng axit và phương pháp phân tích các chỉ tiêu BOD5, COD, SS, Coliform.
  • Cán bộ quản lý môi trường và thú y tại UBND xã Phương Tú, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ứng Hòa: Sử dụng số liệu kiểm kê thực tế của 25 cơ sở giết mổ và mức độ ô nhiễm nước thải làm căn cứ xây dựng kế hoạch thanh tra, ban hành quy chế bảo vệ môi trường làng xã và lập quy hoạch điểm giết mổ tập trung.
  • Người làm đề tài nghiên cứu về môi trường làng nghề và xử lý chất thải nông nghiệp: Kế thừa khung lý thuyết về phân loại ô nhiễm nước và phương pháp đối chiếu hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

1. Thôn nào tại xã Phương Tú tập trung số lượng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm nhiều nhất? Thôn Động Phí là nơi tập trung nhiều nhất với 12 cơ sở giết mổ (chiếm 48% tổng số cơ sở toàn xã), tiếp theo là thôn Phí Trạch (5 cơ sở, 20%), thôn Nguyễn Xá (5 cơ sở, 20%) và thôn Hậu Xá (3 cơ sở, 12%). Hai thôn Dương Khê và Ngọc Động không có cơ sở giết mổ nào.

2. Công suất hoạt động thực tế của các cơ sở giết mổ gia cầm tại địa bàn xã như thế nào? Trong tổng số 19 cơ sở giết mổ gia cầm, có 18 cơ sở đạt công suất trên 30 con/ngày (chiếm tỷ lệ 94,74%) và chỉ có 1 cơ sở hoạt động ở mức 15–30 con/ngày (chiếm tỷ lệ 5,26%). Toàn bộ đều hoạt động theo quy mô hộ gia đình xen kẽ trong khu dân cư.

3. Toàn bộ 25 cơ sở giết mổ tại xã Phương Tú sử dụng nguồn nước cấp nào cho hoạt động chế biến? Kết quả điều tra xác nhận 100% cơ sở (25/25 cơ sở) khai thác và sử dụng duy nhất nguồn nước ngầm từ giếng khoan do các hộ gia đình tự đào; không có cơ sở nào sử dụng nước máy hoặc nước giếng khơi.

4. Những chỉ tiêu nào trong nước thải giết mổ tại xã Phương Tú vượt quy chuẩn kỹ thuật nghiêm trọng nhất? Chỉ tiêu vi sinh Coliform vượt chuẩn cao nhất với giá trị trung bình 17,05x10⁴ MPN/100ml (vượt 56,83 lần cột A và 34,10 lần cột B của QCVN 24:2009/BTNMT), tiếp theo là Tổng Photpho đạt trung bình 95,45 mg/l (vượt 23,86 lần cột A và 15,91 lần cột B) và COD đạt trung bình 735,20 mg/l (vượt 14,70 lần cột A và 7,35 lần cột B).

5. Trong các thông số nước thải được phân tích, có chỉ tiêu hóa lý nào vẫn nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép? Các chỉ tiêu vẫn nằm trong ngưỡng cho phép của QCVN 24:2009/BTNMT gồm có: Nhiệt độ nước thải (đạt 40°C), pH (dao động từ 7,71 đến 8,00, nằm trong khoảng trung tính 6–9 của cột A và 5,5–9 của cột B) và Tổng Nitơ (đạt trung bình 14,90 mg/l, thấp hơn ngưỡng giới hạn 15 mg/l của cột A và 30 mg/l của cột B).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Tùng đã phản ánh toàn diện bức tranh thực trạng hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm thủ công tự phát tại xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Dữ liệu thực nghiệm qua 2 đợt phân tích phòng thí nghiệm chứng minh nước thải xả thẳng ra môi trường bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vật ở mức độ nghiêm trọng, với các chỉ số Coliform, Photpho, COD, BOD5 và SS vượt quy chuẩn QCVN 24:2009/BTNMT từ nhiều lần đến hàng chục lần. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp quản lý thú y kết hợp kỹ thuật xử lý môi trường đồng bộ, cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để chính quyền địa phương tiến hành quy hoạch các điểm giết mổ tập trung hợp vệ sinh.