Đặt vấn đề Tình trạng giết mổ gia, gia cầm thủ công tự phát đang xảy ra ở rất nhiều nơi. Với số lượng giết mổ nhỏ lẻ nhiều và và phân bố rải rác khắp các khu vực ven đô và vùng nông thôn làm cho lực lượng cán bộ thú y gặp nhiều khó khăn khi thực hiện kiểm soát giết mổ. Đặc biệt là những nơi đông dân cư, nhu cầu thực phẩm cao đòi hỏi nguồn cung cấp nhiều và rẻ. Bên cạnh đó các cơ quan chức năng chưa kiểm soát triệt để về vấn đề này nên đã làm cho các điểm giết mổ thủ công mọc lên khắp nơi.
Các địa điểm giết mổ này không đảm bảo điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm, không quan tâm đến nguồn gốc của gia súc gia cầm không có điều kiện giết mổ đảm bảo, không có hệ thống thu gom và xử lý chất thải được xả tràn lan trong khi giết mổ hay được đổ thẳng xuống sông, cống thoát nước. Các cơ sở giết mổ thực hiện ngay trên dưới nền nhà nền sân, giết mổ ngay cạnh sông bên cạnh đó chưa kể đến sử dụng ngay nước sông để rửa thịt , xả trực tiếp chất thải xuống sông gây ô nhiễm môi trường nước và nguy cơ phát tán dịch bệnh từ gia súc gia cầm. các chất rắn như lông, ruột, phân cũng không được xử lý tốt. Ngoài ra, một số hộ tiêu thụ không hết số xương tươi đã đóng bao đem vứt xuống sông khiến nguồn nước sinh hoạt của khu vực bị ô nhiễm nặng.
Tình trạng này càng kéo dài và ngày càng lan rộng rõ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và động vật - thực phẩm, mỹ quan và hệ sinh thái của khu vực giết mổ và làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Ứng Hòa là một huyện trực thuộc thành phố Hà Nội là một trong những nơi cung cấp nguồn thực phẩm chủ yếu của thành phố Hà Nội, hiện trạng giết mổ gia súc gia cầm nhỏ lẻ đang là một vấn đề nan giải. Những ảnh hưởng trên buộc chúng ta rà soát lại sự tồn tại của các điểm giết mổ gia súc gia cầm để tìm ra một giải pháp thích hợp nhất cho từng địa phương, vùng miền cụ thể. Đó cũng là lý do mà tôi đưa ra đề tài “Nghiên cứu tác động của hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm đến môi trường tại xã Phương Tú - huyện Ứng Hòa - thành phố Hà Nội”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài - Nắm bắt hiện trạng xả thải từ các địa điểm từ các địa điểm giết mổ gia súc, gia cầm thủ công trên địa bàn xã. - Nhận biết rõ ràng tác hại do quá trình giết mổ gia súc, gia cầm đến môi trường. - Đưa ra được những dự báo về chất lượng môi trường bị biến đổi trong tương lai do hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm.
- Đưa ra những giải pháp giảm thiểu các ảnh hưởng của nước thải và khí thải của hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm thủ công trên địa bàn xã. Yêu cầu của đề tài - Thông tin và số liệu thu được chính xác, khách quan, trung thực. - Các mẫu nghiên cứu và phân tích phải đảm bảo tính khoa học và đại diện cho khu vực nghiên cứu. - Đánh giá đầy đủ, chính xác chất lượng nước và khí thải của hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn xã.
- Giải pháp kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện tự nhiên và các cơ sở của khu vực. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập - Tạo cho sinh viên cơ hội nâng cao kiến thức, tiếp cận với thực tiễn, vận dụng với lý thuyết đã học vào thực tế, rèn luyện kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu. - Qua trình thực hiện đề tài, sinh viên được đóng vai trò như một cán bộ tập sự, làm bước đệm chuẩn bị cho công việc tương lai.
Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học - Làm tài liệu tham khảo cung cấp cho các ban ngành của các xã về công tác quản lý, bảo vệ môi trường. - Nâng cao công tác quản lý môi trường tại các cấp cơ sở thuộc diện quản lý môi trường trên địa bàn xã. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đề tài nghiên cứu về giết mổ GSGC là một vấn đề bức xúc của người dân địa phương. - Các số liệu thu thập, tổng hợp, phân tích được chính xác có thể sử dụng làm căn cứ để đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
- Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của các cơ sở quản lý môi trường nói chung và người dân tại khu vực nói riêng. - Góp phần phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. n 4 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở pháp lý - Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số 52/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005. - Nghi định 80/2006/NĐ - CP ban hành 09/08/2006 của Chính Phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường. - Nghị định 59/2007/NĐ - CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất thải rắn. - Quyết Định số 22/2006 QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài Nguyên Môi Trường về việc áp dụng TCVN về môi trường.
- Căn cứ Quyết Định 366/QĐ-TTg ngày 31 tháng 3 năm 2012 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012-2015 Căn cứ vào hệ thống TCVN như: - Căn cứ vào QCVN 01:2009/BYT quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước ăn uống. - Căn cứ vào TCVN 5502-2003 cấp nước sinh hoạt yêu cầu chất lượng - Căn cứ vào QCVN 09:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm. - Căn cứ vào QCVN 14:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt. - Căn cứ vao QCVN 15:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hóa chất bảo vệ hóa chất thực vật trong đất.
Cơ sở lý luận - Xã Phương Tú chưa có quy hoạch tổng thể và chi tiết các cơ sở giết mổ động vật tập trung cho tiêu dùng nội địa; về vị trí mặt bằng, quy mô, số lượng… các cơ sở giết mổ. - Các thành phần kinh tế còn do dự không dám đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ tập trung, họ không biết đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ ở đâu để n 5 tiến hành sản xuất được ổn định lâu dài, không phải liên tục di rời do cơ sở vi phạm quy hoạch. - Thực tế trên địa bàn xã còn tồn tại 25 điểm giết mổ nhỏ lẻ phân tán trong các khu dân cư, không đảm bảo vệ sinh thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và mỹ quan, luôn tiềm ẩn nguy cơ làm lây lan dịch bệnh GSGC và ngộ độc thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Trước thực trạng trên, việc quy hoạch xây dựng và quản lý giết mổ GSGC tập chung, đảm bảo vệ sinh thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và mỹ quan đang là một vấn đề cấp thiết đặt ra đối với xã Phương Tú.
Một số khái niệm liên quan 2. Các khái niệm về môi trường - Khái niệm môi trường: Theo khoản 1 điều 3 luật bảo vệ môi trường năm 2005 , môi trường được định nghĩa như sau: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển của con người và sinh vật. - Khái niệm ô nhiễm môi trường: Theo khoản 6 điều 3 luật bảo vệ môi trường việt nam năm 2005: ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng đến con người và sinh vật - Khái niệm tiêu chuẩn môi trường: Theo khoản 5 điều 3 luật bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa: Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường. - Khái niệm về nước thải và nước ô nhiễm: Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.
Ô nhiễm nước là sự thay đổi bất lợi môi trường nước, hoàn toàn hay đại diện bộ phận do các hoạt động khác của con người tạo nên. n 6 Theo hiến pháp châu âu về ô nhiễm nước: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với môi rường nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho con người, cho công nghiệp, cho nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và động vật hoang dã. Khái niệm về sự cố môi trường: Theo khoản 8 điều 3 luật bảo vệ môi trường việt nam năm 2005 định nghĩa: Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng. Các loại ô nhiễm môi trường nước Có nhiều cách để phân loại ô nhiễm nước như sau: * Dựa vào tính chất của ô nhiễm ta có thể phân loại như sau: - Ô nhiễm sinh học của nước: Sự ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là do sự thải các chất hữu cơ có thể lên men: chất thải sinh hoạt, công nghiệp, chất thải nông nghiệp… - Ô nhiễm hóa học (các chất vô cơ và hữu cơ): Do rò rỉ, nhiễm chất hóa học vào nước như dầu mỡ, chì, asen… - Ô nhiễm vật lý: Các chất không tan khi thải vào nước làm tăng hàm lượng chất lơ lửng, độ đục của nước, tăng độ dẫn điện,… * Dựa vào nguồn gốc phát sinh: - Ô nhiễm có các nguồn gốc tự nhiên: do mưa, bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể các xác chết của chúng.
- Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: chủ yếu là do các chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thong vận tải vào môi trường nước. * Theo cách xác định nguồn thải: - Nguồn gây ô nhiễm xác định (nguồn điểm): Nguồn ô nhiễm có thể xác định vị trí, kích thước, bản chất, lưu lượng xả thải của các thông số gây ô nhiễm.