Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về cộng đồng (Local Community) Ở Việt Nam, khái niệm về “Cộng đồng” được dùng trong lĩnh vực quản lý TNR có thể khái quát thành 02 quan điểm chính sau: (1) Cộng đồng là tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục, tập quán, có quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và có ranh giới không gian trong một thôn bản. Theo quan niệm này, “Cộng đồng” chính là “Cộng đồng dân cư thôn bản” (sau đây “thôn bản” được gọi chung là “thôn” cho phù hợp với Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004). (2) “Cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến các nhóm người có mối quan hệ gắn bó với nhau trong sản xuất và đời sống.
Như vậy theo quan niệm này “Cộng đồng” không phải chỉ là cộng đồng dân cư toàn thôn mà còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc trong thôn; Cộng đồng các dòng họ hoặc nhóm hộ trong thôn. Có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng phần lớn các ý kiến đều cho rằng “Cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng động dân cư thôn. Tại điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa “Cộng đồng dân cư thôn là tập hợp toàn bộ các HGĐ, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương”. Như vậy, trong luận văn này “Cộng đồng” được dùng là khái niệm được quy định tại Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.
Khái niệm về rừng đặc dụng - Rừng đặc dụng: Là loại rừng được xác lập theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 03/12/2004 tại kỳ họp Quốc hội khóa 11 đã quy định, có giá trị đặc biệt về bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường. n 96 - Vườn quốc gia: Là loại rừng đặc dụng có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt đối với quốc gia. Vườn quốc gia có chức năng chung của rừng đặc dụng đồng thời có thể có một trong các chức năng chủ yếu là: bảo tồn và dự trữ thiên nhiên; khu bảo tồn loài - sinh cảnh; bảo vệ cảnh quan. Khái niệm vùng đệm (Buffer Zone) Quan niệm về vùng đệm bắt đầu được đề cập vào khoảng năm 1950.
Khi Khu bảo tồn Nerfu ở Zambia Luangua gặp phải thách thức trước nhu cầu cuộc sống và tập quán của người dân địa phương, họ đã quan tâm đến việc cho phép các CĐ ĐP được săn bắn theo phương thức truyền thống. ở Vườn quốc gia Corbet ở ấn Độ, người dân địa phương cũng được quyền thu hoạch và khai thác các sản phẩm không phải là gỗ trong một số khu rừng bán tự nhiên. Tại Hội nghị về Khu bảo tồn và Vườn quốc gia lần thứ III do IUCN tổ chức tại Bali năm 1982 đã đề cập đến việc đáp ứng nhu cầu của người dân địa phương thông qua việc xây dựng các vùng đệm. Vấn đề này đã được thảo luận nhiều hơn trong Hội nghị MAB/UNESCO về Chương trình hành động cho các khu bảo tồn sinh quyển, được tổ chức tại Minsk (Liên Xô cũ) năm 1984.
Trên cơ sở đó, có rất nhiều khái niệm về vùng đệm được đưa ra [32]. Theo Jeffey Sayer (1991) thì “Vùng đệm là vùng đất nằm xung quanh vườn quốc gia hay khu bảo tồn mà ở đó việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên có hạn chế, hay ở đó các biện pháp quản lý đặc biệt về phát triển nhằm nâng cao hiệu quả của công việc bảo vệ”. Michael Brow Barbara uryckoff – Baird (1994) cho rằng: “Vùng đệm là vùng nằm trong hoặc tiếp giáp với khu bảo tồn, tại đó mối quan hệ hài hoà giữa môi trường tự nhiên và con người được chú trọng, mục tiêu của việc quản lý vùng đệm là tối ưu hoá những giá trị văn hoá, xã hội, sinh thái và tài nguyên thông qua việc quản lý tích cực, thích ứng, công bằng với tất cả các nhóm và cho phép thay đổi giá trị đối với thời gian”. GTZ (1996) thì quan niệm rằng: “Vùng đệm và vùng chuyển tiếp là những vùng đất nằm ngoài hay trong khu bảo tồn.
Các vùng này có chức năng tạo thuận lợi cho khu bảo tồn và cho cuộc sống của dân cư ở đây. Dân cư sinh sống ở đây luôn là tiềm năng trực tiếp ảnh hưởng đến khu bảo tồn”. - Tại Hội thảo quốc gia về sự tham gia của CĐ ĐP trong quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 17-18 tháng 12 n 97 năm 1997, khái niệm vùng đệm đã được đưa ra thảo luận. Một số khái niệm được đề cập tới trong hội thảo là [34]: + Vùng đệm là “Vùng đất nằm ngoài khu bảo tồn hay vườn quốc gia, tại đó việc sử dụng đất đa phần nào được hạn chế, nhằm tạo thành một vành đai bảo vệ bổ sung cho khu bảo tồn, đồng thời giúp cho nhân dân sinh sống trong vung được bù đắp phần nào những thiệt thòi do việc thành lập các khu bảo tồn đó gây ra” (Mackinnon, 1981, 1986).
+ “Vùng đệm là vùng tiếp giáp với khu bảo vệ bao quanh toàn bộ hay một phần của khu bảo vệ, vùng đệm nằm ngoài diện tích khu bảo vệ và không thuộc quyền quản lý sử dụng của ban quản lý bảo vệ” (Quyết định số 1586 LN/KL ngày 13/7/1993). + “Vùng đệm là vùng rừng hoặc đất đai có dân cư sinh sống bao quanh hoặc nằm sát ranh giới các khu rừng đặc dụng hoặc khu bảo tồn thiên nhiên. Việc thành lập vùng đệm nhằm làm giảm áp lực của dân địa phương đối với khu vực cần bảo vệ” [35].A và Nguyễn Văn Sản đã định nghĩa vùng đệm là “những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có tài nguyên rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và chính vùng đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn. Điều này được thực hiện bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của cư dân sống trong vùng đệm” [36].
- Theo luật bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 03/12/2004 tại kỳ họp Quốc hội khóa 11 đã quy định: Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới khu rừng đặc dụng, có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm hại khu rừng đặc dụng. Nhiều khái niệm được đưa ra, nhưng khó có thể thống nhất các khái niệm trên được. Tuy nhiên có thể tìm thấy một số điểm chung cơ bản như sau: Căn cứ theo Điều 11 của Thông tư của Số: 78/2011/TT-BNNPTNT quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng quy định: Vùng đệm được xác định là diện tích rừng hoặc đất ngập nước có ranh giới liền kề với khu rừng đặc dụng, có tác dụng ngăn ngừa hoặc triệt tiêu nạn xâm hại vào khu rừng đặc dụng. Vùng đệm bao gồm những diện tích nằm ngoài ranh giới khu rừng đặc dụng (vùng đệm bên ngoài) và diện tích nằm trong n 98 ranh giới khu rừng đặc dụng đang có các hộ dân sinh sống hợp pháp (vùng đệm bên trong).
- Mục đích của vùng đệm: Là ngăn ngừa các tác động tiêu cực của người dân vào khu rừng đặc dụng thông qua sự phối hợp trong quản lý hệ sinh thái tự nhiên và phát triển giữa Ban quản lý rừng đặc dụng, chính quyền địa phương, và người dân địa phương sinh sống trong vùng đệm. - Chức năng chủ yếu của vùng đệm: Góp phần bảo tồn diện tích rừng đặc dụng, tăng cường giá trị bảo tồn trong bản thân vùng đệm, nâng cao sinh kế người dân theo phương châm đồng quản lý để thu hút họ tham gia các hoạt động bảo tồn của khu rừng đặc dụng. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Năm 1872, Vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Mỹ, đó là vườn quốc gia Yellowstone. VQG này nằm trên vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ.
Nhiều KBTTN và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới và cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào KBTTN và VQG và tiếp cận tài nguyên trong đó. Điều đó dẫn đến những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa CĐĐP và khu bảo tồn và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được [37]. Trong vài thập kỷ qua, các KBTTN trên thế giới đang có xu hướng tăng cả về số lượng và diện tích. Hiện nay trên thế giới có hơn 100.000 khu BTTN (Tạp chí KBTTN tập 14, số 3, 2004) chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới.
VQG chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các KBT loài và sinh cảnh. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà KBTTN có thể đem lại vẫn còn là thách thức lớn tại rất nhiều nơi trên thế giới. Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của CĐĐP. Ở VQG Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý.
Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền [25]. n 99 Một nghiên cứu của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed, thực hiện năm 2000 (Isaacs và nnk, 2000) ở VQG Richtersveld tại Nam Phi chỉ ra rằng việc xây dựng VQG đã có tác động rất lớn đến đời sống của người dân nơi đây.