Mở đầu là thời kì hái lượm với những công cụ bằng đá, con người nguyên thủy có thể làm mọi việc, họ đi săn thú để lấy thịt và lấy da để che thân. Tuy nhiên cuộc sống của người nguyên thủy chủ yếu là thích nghi với môi trường sống [47]. Ở nền văn minh thời kì đồ đá mới, tác động của con người đến sinh quyển đã nổi bật hơn. Khi đó loài người đã biết dùng cung, tên, mài đồ đá, chế tạo đồ gốm, làm nông nghiệp, đã biết trồng những loại ngũ cốc chủ yếu, đỗ, lạc, vừng, các loại rau, củ, cây ăn quả, biết chăn nuôi một số loại gia súc [47].
Nền nông nghiệp phát triển cùng với kĩ thuật làm đồ gốm đã tạo ra khả năng dự trữ những sản phẩm nông nghiệp mà từ trước đó con người chỉ biết chứa trong những hầm ủ tươi làm sản phẩm mau hỏng. Sự ổn định của nền nông nghiệp, khả e 7 năng dự trữ sản phẩm nông nghiệp tạo điều kiện cho sự định cư và từ đó xuất hiện những điểm dân cư là tiền đề cho những đô thị sau này [47]. Nói tóm lại, hệ sinh thái trong các thời kì kể trên thể hiện nền văn minh nông nghiệp với mức độ ổn định cao. Dù rằng môi trường vẫn có sự biến đổi cùng với sự diễn thế sinh thái học gắn với sự mở rộng của nền kinh tế nông nghiệp, song hoạt động của con người trong xã hội đã hòa nhập chung vào chu trình sinh, địa, hóa và không làm thay đổi dòng năng lượng trong sinh quyển [47].
Đầu thế kỷ XVIII nền khoa học kĩ thuật đã có những chuyển biến cho phép nền công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Nền công nghiệp và nông nghiệp đòi hỏi những nguồn năng lượng lớn đã thúc đẩy nền công nghiệp khai thác mỏ ảnh hưởng đến các địa tầng, rừng và các tài nguyên sinh học khác. Sự phát triển của nền công nghiệp cùng với tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng đã làm thu hẹp nhanh chóng đất nông nghiệp ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường [47]. Sự phát triển tiến hóa của loài người đã vượt qua xã hội hoang sơ để bước vào nền văn minh nông nghiệp – nền văn minh gốc tự nhiên rồi đến nền văn minh công nghiệp và ngày nay đang bước vào nền văn minh kinh tế tri thức [43].
Con người đã tiến rất xa so với thời tiền sử. Thế nhưng cùng với sự phát triển và tiến hóa của mình, con người đã tác động vào thiên nhiên ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng, làm biến đổi thiên nhiên, làm cho nguồn tài nguyên bị suy kiệt, môi trường sống bị hủy hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ. Lịch sử trái đất sau thời kỳ Băng Hà đến nay chưa bao giờ gặp phải hiểm họa sinh thái to lớn như hiện nay [60]. Vì hiểm họa khôn lường về môi trường sinh thái mà Hội nghị Thượng đỉnh các Quốc gia năm 1992 tại Brasil đã kêu gọi loài người phải cứu lấy Trái đất.
Một trong hai hiểm họa toàn cầu hiện nay mà Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã kết luận tại cuộc họp cuối tháng 7 năm 2007 là sự nóng lên của Trái đất – nguy cơ phá hủy môi trường sống của loài người. Chính sự phát triển kinh tế của con người trong quá khứ là nguyên nhân chủ yếu của hiểm họa sinh thái hiện nay [38]. Đó chính là do con người không tôn trọng quy luật tự nhiên – con người và tự nhiên là một thể thống nhất biện chứng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau luôn luôn tác động qua lại, mà trong đó con người không thể tách rời khỏi thiên nhiên. Cần phải tôn trọng quy luật cơ bản đó đã được nhiều e 8 nhà khoa học nhắc nhở từ thời xa xưa.
Epietite một triết gia thế kỷ thứ I (sau công nguyên) đã chỉ ra rằng: “Cái tốt nhất là cái phù hợp với tự nhiên, sống theo tự nhiên là sống theo lý trí…” theo con đường đó con người sẽ được sống sung sướng và được tự do, toàn năng và hoàn thiện [53]. Vào đầu thế kỷ XIX ĂngGhen cũng đã cảnh báo rằng: “Không nên quá khoái trí về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên, bởi vì sự thật nhắc nhở rằng, chúng ta hoàn toàn không thể thống trị giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, mà trái lại chúng ta với cả xương, thịt, máu và bộ não là thuộc về giới tự nhiên và mỗi chúng ta nằm trong giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên bao hàm ở chỗ là chúng ta khác với tất cả các sinh vật khác, biết nhận thức được quy luật một cách đúng đắn [8]. Dưới góc độ sinh thái học, thì không có một sinh vật nào tồn tại phát triển mà không có môi trường. Nói cách khác, môi trường là điều kiện sống cho mọi sinh vật.
Con người là một nhân tố của môi trường sinh thái, nhưng là sinh vật tiến hóa nhất, có tổ chức cao nhất mà không sinh vật nào có được. Mặc dầu con người hiện đại có thể biến đổi thiên nhiên, cải tạo môi trường và can thiệp vào thiên chức của tạo hóa [93]. Nhưng con người cũng không thể tách mình ra khỏi môi trường. Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể diễn ra theo hai hướng: Nếu theo đúng quy luật thì làm cho tự nhiên ngày càng phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sản xuất và đời sống con người.
Ngược lại tác động không đúng quy luật sẽ làm cho tự nhiên ngày càng nghèo nàn, kiệt quệ, cân bằng sinh thái bị phá và tự nhiên sẽ trả thù con người [61]. Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên có thể tóm tắt trong đoạn viết sau đây của nhà khoa học Pháp J.Dorste vào đầu thế kỷ XX là: “Con người đã mắc phải một sai lầm rất lớn khi lên mặt cho rằng có thể tách rời khỏi thiên nhiên và phớt lờ các quy luật của nó. Giữa con người và môi trường tự nhiên bao quanh nó từ rất lâu đã có sự gián đoạn. “Bản hiệp ước cũ” gắn bó người nguyên thủy với nơi sinh sống của nó đã bị một bên – con người hủy bỏ ngay khi nó cảm thấy đủ mạnh để từ đó về sau chỉ thừa nhận cái quy luật do chính nó đề ra.
Cần phải xét lại toàn bộ quan điểm đó và kí kết một hiệp ước mới với thiên nhiên – hiệp ước mang lại cho con người khả năng sống hài hòa hoàn toàn với thiên nhiên”. Sinh thái học hiện đại đang chuẩn bị văn bản cho hiệp ước đó [31]. Trên cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa con người với e 9 giới tự nhiên, trong những năm 70 của thế kỉ XX, đã hình thành một lĩnh vực nghiên cứu mới là sinh thái nhân văn.Boughey (1975), đó là khoa học nghiên cứu về phát triển xã hội và quần thể người trong mối tác động qua lại với nhau và với toàn bộ môi trường sống của chúng. Nói cách khác, sinh thái nhân văn là những nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên mà con người đang sống [111].
Trong thời gian gần đây cũng xuất hiện một số khái niệm như: Kinh tế sinh thái, văn minh sinh thái đều nói lên mối quan hệ biện chứng nêu trên. Tuy nhiên khái niệm văn minh sinh thái để chỉ nấc thang cao hơn trong mối quan hệ hài hòa giữa con người và giới tự nhiên ở xã hội văn minh cao “văn minh trí tuệ”. Vấn đề quản lý và sử dụng bền vững hệ sinh thái Chúng ta đã biết, sự can thiệp của con người vào các hệ thống tự nhiên trong sinh quyển đang phá hủy môi trường, giảm đa dạng sinh học, thay đổi dòng năng lượng và chu trình tuần hoàn vật chất trong các hệ sinh thái. Vì vậy, cần phải có chính sách quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, đầu tư nghiên cứu nhằm bảo tồn, khôi phục các hệ sinh thái.
Thực tế cho thấy, tất cả công việc đó đều bắt đầu bằng việc phục hồi lại môi trường sống, cung cấp nguồn sống thích hợp cho các loài trong các bậc dinh dưỡng, duy trì chu trình vật chất, cấu trúc và chức năng hệ sinh thái [99]. Sinh thái học bảo tồn đang được áp dụng rộng rãi trong việc khôi phục lại các vùng khai thác mỏ, đất ngập nước, thủy vực, trồng lại rừng… Khôi phục các loại rừng mưa nhiệt đới với thành phần cây bản địa, khôi phục rừng ngập mặn ven biển vừa hạn chế tác hại gió bão, nước biển dâng… vừa nâng cao năng suất thủy sản ven biển và đại dương, mang lại hiệu quả kinh tế môi trường [99]. Đối với các hệ sinh thái thủy vực Khi nghiên cứu về hệ sinh thái các thủy vực, tác giả Vũ Trung Tạng (2008) đã đưa ra một số giải pháp bảo tồn, khai thác hợp lý các hệ sinh thái thủy vực [75]. * Bảo tồn đa dạng sinh học thủy sinh vật: Bảo tồn đa dạng sinh học thủy sinh vật cần thực hiện bằng nhiều giải pháp: Giảm áp lực do khai thác quá mức, giảm các hoạt động thu hẹp và hủy hoại các hệ sinh thái, sinh cảnh và nơi sống, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Có hai hình thức bảo tồn đang được áp dụng hiện nay là bảo tồn nguyên vị (In-situ) và chuyển vị (Ex-situ). e 10 Đến nay, do một số đối tượng thủy sản, có giá trị đặc biệt cũng như nguồn lợi chung suy giảm nên việc thả lại giống nhằm khôi phục kích thước quần thể của chúng và làm giàu cho biển đã được triển khai ở nhiều nước có nghề cá tiên tiến và mang lại những thành tựu to lớn [75]. * Khai thác hợp lý tài nguyên thủy sinh vật: Hiện nay, khai thác thủy sản mặc dù đã đạt được những thành tựu vượt bậc, song vẫn mang tính chất “hái lượm” nguyên thủy. Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản phải dựa trên cơ sở khoa học của nghề cá hay những nguyên lý của khoa học sinh học và sinh thái học.
Đi đôi với khai thác hợp lý tài nguyên là giảm áp lực khai thác tài nguyên sinh vật trong các thủy vực nước ngọt và biển dựa trên chiến lược phát triển thủy sản và quản lý tài nguyên, môi trường theo quan điểm phát triển bền vững [75]. Hiện nay, với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống, việc huy động các dạng tài nguyên và sức lực của con người đang được đặt ra cấp bách. Vùng cửa sông sẽ đóng góp cho công cuộc chung đó bằng thế mạnh của riêng mình.