chương 1 – Cơ sở lí luận của luận án. Điểm qua một số tác giả thì thấy năm 1987, Nguyễn Phan Cảnh đã đề cập đến vấn đề khai thác hệ kết hợp của thơ hiện đại, cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa (chính là tính đa trị của ngôn ngữ) hay bản chất các phương thức chuyển nghĩa… trong cuốn “Ngôn ngữ thơ”. Đến năm 2001, “Ngôn ngữ thơ” của Nguyễn Phan Cảnh được tái bản, bổ sung. Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa, đặt nền móng cho lý thuyết nghiên cứu ngôn ngữ một thể loại văn học đặc thù (trong cái nhìn phân biệt giữa ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi).
Với “Ngôn ngữ thơ Việt Nam” (1998), Hữu Đạt đã có những nghiên cứu nhất định về đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ tiếng Việt trên cơ sở vận dụng khá nhuần nhuyễn các lý thuyết quan hệ hệ hình, quan hệ cú đoạn… Bên cạnh đó, các cuốn “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” (2000), “Phong cách học tiếng Việt hiện đại” (2001), “Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình văn học” (2002) của tác giả này cũng là những công trình nghiên cứu có giá trị nền tảng, cơ sở cho việc nghiên cứu về văn học nói chung, thơ nói riêng từ phương diện phong cách học của ngôn ngữ học. Trong cuốn “Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng Ngôn ngữ học” (Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, in lần 2, 2005), Mai Ngọc Chừ đã rất cẩn thận, tỉ mỉ với một phương pháp làm việc logic, khoa học của ngôn ngữ học để khai thác tương đối triệt để vấn đề vần thơ Việt Nam: Chức năng của vần, mối quan hệ của nó với các yếu tố khác; Đơn vị hiệp vần, hai mặt đồng nhất và khác biệt của vần thơ; Vai trò và quy luật phân bố các yếu tố cấu tạo âm tiết tiếng Việt trong việc tạo lập vần thơ; Vấn đề phân loại vần, vị trí và sự hoạt động của các loại vần trong các thể thơ, khổ thơ, vần xét về mặt hòa âm. Đây là một trong những công trình khẳng định được vai trò của ngôn ngữ học trong việc nghiên cứu thơ Việt, dù mới chỉ đi sâu vào cấp độ vần thơ (có đặt vần thơ trong mối liên hệ với các hiện tượng khác như nhịp điệu, ngữ điệu…, trong mối liên hệ với các câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ, thậm chí bài thơ). Đồng thời, công trình này cũng là một gợi ý và tạo cơ sở cho luận án của chúng tôi khi nghiên cứu thơ Việt Nam thế kỷ XX ở nhiều cấp độ khác nhau: bài thơ, khổ thơ, câu thơ.
Gần đây còn có các bài báo của Lý Toàn Thắng (“Thơ mới bảy chữ của Xuân Diệu: khổ thơ và luật thơ” 223, tr 3-7, “Thử đo đếm thơ”, 224, tr 42->49), Trần 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại Nghĩa (“Đọc mới bài thơ “Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan 193, tr 34->37), Vũ Duy Thông (“Ngôn ngữ Thơ mới và ngôn ngữ thơ kháng chiến” 235, tr 52->57), Nguyễn Thế Lịch (“Ngữ pháp của thơ” 198, tr.58->64) cũng chú ý đến ngôn ngữ thơ. Tiếp đó, có các bài nghiên cứu thơ Việt Nam thế kỷ XX theo hướng ngôn ngữ học đăng rải rác trên các tạp chí Khoa học- Đại học Quốc gia Hà Nội, Ngôn ngữ của các tác giả Đinh Văn Đức, Nguyễn Phương Thùy là những bài đặt cơ sở nền tảng cho việc “thử nghiệm và kiểm chứng” một số hướng nghiên cứu mà luận án này hướng tới. Nhận thức về thơ 1. Nhận thức về mặt lịch sử sáng tác và thi pháp Trước hết, luận án tìm hiểu khái niệm về thơ.
Thơ là gì? Thơ là hiện tượng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máy ngôn ngữ của nó. Từ thời cổ đại, các học giả vĩ đại như Aritxtốt, Điđơrô, sau đó đến Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, N.Tsecnưsepki…bàn đến những vấn đề của thơ ca. Arixtốt trong cuốn “Nghệ thuật thơ ca” [1] gọi tất cả các loại hình thơ ca (sử thi, bi kịch, hài kịch, tửu thi) là các nghệ thuật mô phỏng hay là sự mô phỏng. Nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là tác phẩm thơ ca chỉ đơn giản là sự tái hiện bản thân hiện thực bằng các hình tượng được tạo nên bởi các phương tiện ngôn ngữ- tức là tái hiện những cái đã xảy ra trong chính hiện thực.
Hình tượng thơ ca không cần phải là bản sao của một hình tượng duy nhất nào đó trong hiện thực, mà nó phải là sự sáng tạo của nhà thơ, tương ứng với điều Arixtốt đã nói trong định nghĩa về đối tượng thơ ca: “Nhiệm vụ của nhà thơ không phải là nói về cái đã xảy ra”. Ở Việt Nam cũng có các học giả Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn… có những quan niệm về thơ. Chẳng hạn, Lê Quý Đôn (1726-1784) có những chuyên mục bàn về thơ văn (như mục “Văn nghệ” gồm 48 điều trong bộ “Vân đài loại ngữ”). Các ý kiến bàn về thơ nhiều hơn cả là nằm trong các bài Đề từ, Tựa, Bạt, Bình… các hợp tuyển thơ (như Việt âm thi tập, Trích diễm thi tập, Toàn Việt thi lục), nhất là các tập thơ của các nhà nho 120, tr.
Trong số đó, có tác giả thiên về tình, có tác giả thiên về ý, có tác giả thì bàn đến cả tình và ý trong thơ. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bạch Cư Dị (đời nhà Đường, Trung Quốc) qua thư gửi Nguyễn Chẩn đã viết “Cái gọi là thơ thì cảm hóa nhân tâm không gì bằng tình cảm. Không thể bắt đầu bằng cái gì khác ngoài ngôn ngữ. Không gì thân thiết bằng âm thanh.
Không gì sâu sắc bằng nghĩa lý. Gốc của thơ là tình cảm. Lá của thơ là ngôn ngữ. Hoa của thơ là âm thanh.
Quả của thơ là nghĩa lý” (Văn nghệ số 5 ngày 10-12-1994). Ở thời kỳ hiện đại cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thơ. Trong số đó phải nói đến quan niệm về thơ của các nhà thơ, quan niệm về thơ của các nhà phê bình, lí luận và quan niệm về thơ của những người nghiên cứu theo thi pháp học và theo cách nhìn của nhà ngôn ngữ học. * Quan niệm về thơ của các nhà thơ: Bàn theo góc độ cảm hứng sáng tác, các nhà thơ có quan niệm về thơ như sau: Nhà thơ Tố Hữu trong một lần trả lời phỏng vấn Lê Thọ Bình (theo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh) đã nói rất ngắn gọn: “Thơ là cảm hứng.
Cảm hứng thì nên ghi lại”. Theo phần trích dẫn của Mã Giang Lân trong 79, tr.17->18 thì: Lưu Trọng Lư cho rằng “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống”. Thanh Tịnh cũng nghĩ: “Thơ là tinh hoa, là thể chất cô đọng của trí tuệ và tình cảm”. Tố Hữu quan niệm: “Thơ biểu hiện tinh chất của cuộc sống”, “thơ là cái nhụy của cuộc sống”, “Thơ là tiếng nói tri âm”, “Thơ là chuyện đồng điệu”.
Sóng Hồng trong bài Tựa tập Thơ của mình đã viết: “Thơ là biểu hiện cuộc sống một cách cao đẹp”. Có thể nói, các quan niệm của các nhà thơ này đều theo hướng thơ gắn liền với cuộc đời. Theo Lê Quang Đức trong bài “Chế Lan Viên- tháp Bayon bốn mặt là ông?” thì: “Chế Lan Viên một trong những người suy tư và viết về lao động thơ nhiều nhất, ông thể hiện tất cả điều đó thành thơ: “Thơ, thơ đong từng ngao như tát bể Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời.” Hiểu giá trị của thơ, ông là người trong suốt hành trình sáng tạo đã luôn tìm cách tốt nhất để chuyển hóa chất liệu đời sống thành chất liệu tâm hồn bằng cách thầm lặng đánh vật với câu chữ, ý tưởng như người phu chữ. Ông luôn tuân theo những hình luật khắc nghiệt của sáng tạo nhưng bao giờ cũng biết vượt qua để hướng tới bến bờ nghệ thuật: thơ phải có ích cho tư tưởng và phải mới lạ cho xúc cảm: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Đừng làm những câu thơ khuôn mình theo văn phạm Như cây xanh quá thẳng chim không về.” Insara trong bài viết “Khoảng tối của thơ ca” (E.
VnExpress) thì cho rằng: “Thi ca không phải là cái đẹp thêm vào cuộc sống, của trang điểm cho tính thể con người, càng không phải là trò nhàn đàm của và cho những tâm hồn mệt mỏi. Ở đâu và bất kỳ thời đại nào cũng có những tâm hồn đau khổ và tuyệt vọng. Chính những nơi đó thi ca có mặt. Nhưng thơ có mặt không với tư cách chiếc bè cho sinh thể kia bấu víu mà như chất xúc tác làm cháy lên trong tâm hồn bóng tối ấy tia lửa mới của hy vọng.
Như thế, xã hội tính bao giờ cũng là một trong những yếu tính của thi ca, dù xã hội đó là sự thống khổ của cả đám đông, nỗi ưu tư của một nhóm hay chỉ là cái uẩn khúc trong tâm thức của một cá thể biệt lập…. đừng đòi hỏi mọi sự mạch lạc và sáng sủa ở thi ca. Tệ hại không kém là khuynh hướng tự khuấy đục làm ra vẻ sâu thẳm của những dòng nước cạn. Sức hấp dẫn của thơ không chỉ ở bề nổi nơi tất cả được bày ra giữa ban ngày mà chính là ở đường biên ẩn khuất của đêm sáng huyền nhiệm, nơi cuộc chiến trong tâm hồn con người còn nóng hổi hơi thở.” “Thơ, chính là một trong những lĩnh vực lao động tạo ra các giá trị phi vật thể của một dân tộc.
Một cái cảnh nên thơ, không phải tự nó nên thơ, mà nó là do cái văn hóa mà các nhà thơ đã hình thành ra. Người nghệ sĩ làm cho cuộc đời đẹp hơn, sâu hơn. Người làm thơ, quan trọng nhất là tạo ra những cái nên thơ, những giá trị phi vật thể.” (Nhà thơ Lê Đạt) Nhà thơ Trần Dần thì cho rằng: “Thơ ca không nên là những tụng ca thời thượng, mà phải đi sâu vào tâm trạng con người. Thơ cần phải liên tục đổi mới để đuổi kịp sự phát triển của đời sống (dẫn lời bài thơ của nhà thơ Philippe Jaccottet: “Tôi đã già đi từ tiếng đầu đến tiếng cuối của bài thơ”.
Trong bài viết “Tìm hiểu một quan niệm nghệ thuật về ngôn từ thơ Việt đương đại”, Trần Ngọc Hiếu đã viết: “… họ định nghĩa “làm thơ tức là làm chữ”, hay cụ thể hơn, “làm thơ tức là làm tiếng Việt” (Trần Dần), nhà thơ chính là “kẻ phu chữ” (Lê Đạt). “Thơ cổ lai đặt ở tứ lạ, lời hay, hình ảnh đẹp, âm điệu ru hồn. Tôi giản dị đồng nhất thơ vào chữ.