Đặt vấn đề Nấm là một loại thực phẩm quý có giá trị dinh dưỡng và giá trị dược liệu cao, không chứa choresteron, giàu đạm, và giàu các biệt dược quý để chữa bệnh tim mạch, đường huyết, cao huyết áp, chữa ung thư, béo phì.Vì thế ngành trồng nấm đang rất phát triển trên thế giới, tiêu biểu là ở các nước Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ. Việt Nam là một nước nông nghiệp, giàu tiềm năng nông lâm nghiệp do có nguồn phế phụ phẩm từ nông, lâm nghiệp (rơm, rạ, mùn cưa, bã mía, thân ngô, lõi ngô…) đạt mức trên 40 triệu tấn/năm, đây là nguồn nguyên liệu thích hợp để trồng nấm. Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên (nhiệt độ, độ ẩm…) của nước ta rất phù hợp với việc trồng nhiều loài nấm. Hiện nay việc nuôi trồng nấm đang được đẩy mạnh ở các địa phương trong cả nước và là nguồn thu nhập đáng kể trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp, nông thôn.
Nấm Đầu Khỉ là một trong những loại thảo dược quý. Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học đã chứng minh rằng nấm Đầu Khỉ có hiệu quả điều trị tốt trên bệnh Alzheimer, ngăn cản quá trình lão hoá và phục hồi các nơron thần kinh, tăng cường hệ miễn dịch, các chất chiết xuất từ nấm Đầu Khỉ có khả năng hỗ trợ điều trị sự hình thành các khối u, ức chế tế bào ung thư gan, ung thư dạ dày…Ngoài ra, hiện nay nấm Đầu Khỉ còn được sử dụng rộng rãi nấm Đầu Khỉ để cải thiện các triệu chứng chán ăn, khó tiêu hay rối loạn tiêu hóa. Để góp phần khai thác nguồn dinh dưỡng và dược liệu quí này, do đó việc tiến hành đề tài “Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của nấm Đầu Khỉ(Hericium erinaceus) He2 trên một số môi trường cơ chất tổng hợp” rất cần thiết và có ứng dụng thực tế cao. Mục đích, yêu cầu đề tài 1.
Mục tiêu Đánh giá ảnh hưởng của cơ chất nuôi trồng đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của chủng nấm Đầu Khỉ He2. Đánh giá ảnh hưởng của độ ẩm nguyên liệu đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của chủng nấm Đầu Khỉ He2. Đánh giá ảnh hưởng của kích thước bịch đến sinh trưởng, phát triển và năng suất thu hoạch nấm Đầu Khỉ He2. Yêu cầu Xác định các nguồn nguyên liệu thích hợp bổ sung vào cơ chất mùn cưa trong công thức nuôi trồng.
Xác dịnh được độ ẩm nguyên liệu phù hợp cho sinh trưởng của hệ sợi nấm Đầu Khỉ He2. Xác định được kích thước phù hợp cho năng suất thu hoạch nấm Đầu Khỉ He2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu trên thế giới Hiện nay, nghề trồng nấm phát triển ở mọi Châu lục; có gần 80 nước nuôi trồng các loại nấm Mỡ, nấm Hương, nấm Sò, Mộc Nhĩ … trong đó ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật Bản.… đã nuôi trồng nhiều loại nấm và lượng tiêu dùng hàng năm cũng rất lớn, qui mô sản xuất nấm đã được cơ giới hoá từ khâu xử lý nguyên liệu đến thu hái; năng suất nấm tươi trung bình đạt 45-50% so với khối lượng nguyên liệu khô ban đầu (Trịnh Tam Kiệt, 2013).
Nhiều nước ở châu Á trồng nấm còn mang tính chất thủ công, năng suất không cao, nhưng sản xuất gia đình, trang trại với số đông nên tổng sản lượng rất lớn chiếm 70% tổng sản lượng nấm ăn toàn thế giới. Từ thập kỉ 80 của thế kỉ 20, việc trồng nấm đã phát triển mạnh vì đầu tư ít, chu kì ngắn, hiệu quả nhanh, dễ làm giàu, có một thời kì cung cũng không đủ cầu. Nghề trồng nấm ăn và nấm dược liệu là một đề tài phát triển nông thôn nhanh có hiệu ích kinh tế, hiệu ích sinh thái, hiệu ích xã hội. Một số nước đã xây dựng các xưởng trồng nấm sản xuất trên hàng nghìn tấn nấm tươi, có nơi còn phát triển vừa làm cảnh vừa làm nấm ăn.
Thế kỉ 21 đã dùng kỹ thuật trồng nấm ăn và phát triển thể sợi nấm lên men để làm gia vị thực phẩm chủ yếu là thực phẩm chứa protein (Trần Văn Mão, Trần Tuấn Kha, 2014). Sản lượng nấm thế giới đạt khoảng 25 triệu tấn/năm, tăng từ 7%-10%/năm. Trung Quốc là nơi sản xuất nấm hàng đầu thế giới, rồi đến Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Indonesia, Hàn Quốc. Lãnh thổ Đài Loan và Hàn Quốc đã công nghiệp hóa nghề nấm với việc áp dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến nên đã tạo ra mức tăng trưởng gấp trăm lần trong hơn thập niên qua.
Theo Hiệp hội Nấm ăn Hàn Quốc, mỗi năm quốc gia này nhập khẩu lượng nguyên liệu không nhỏ là phụ phẩm trong nông nghiệp như mùn cưa, rơm rạ từ Việt Nam và Trung Quốc để phục vụ ngành công nghiệp trồng nấm, sau đó xuất khẩu nấm sang khoảng 80 quốc gia, trong đó có Việt Nam (Công Phiên, 2012). Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu ở Việt Nam Nước ta sản xuất 16 loại nấm, trong đó các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm Rơm, nấm Mộc Nhĩ; các tỉnh phía Bắc trồng nấm Hương, nấm Sò, nấm Linh Chi. Sản lượng nấm cả nước đạt hơn 250. Kim ngạch xuất khẩu nấm đạt từ 25 – 30 3 triệu USD, trong đó xuất khẩu nhiều nhất là nấm Mộc Nhĩ 120.
Từ những năm 2000 trở lại đây việc nghiên cứu về nấm lớn, đặc biệt là nấm dược liệu cũng được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm và đã có những kết quả đáng kể. Các vùng sản xuất nấm: Miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ, Đồng Nai.) chiếm 90% sản lượng cả nước. +Nấm Mộc Nhĩ được trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam bộ (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước.), chiếm khoảng 70% sản lượng cả nước. +Nấm Mỡ, nấm Sò, nấm Hương được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, sản lượng khoảng 3.
+Nấm làm dược liệu (Linh Chi, Vân Chi, Đầu Khỉ.) mới được phát triển, trồng ở một số tỉnh/thành phố (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Đồng Nai,.), sản lượng khoảng 300 tấn/năm. +Một số loại nấm khác như nấm Trân Châu, nấm Kim Châm, nấm Đùi Gà, nấm Chân Dài, nấm Ngọc Châm. đang nghiên cứu và trồng thử nghiệm thành công tại một số cơ sở, sản lượng khoảng 100 tấn/ năm (Lê Hoàng Vũ, 2013).
Nấm Đầu Khỉ Hericium erinaceus (Bull. Giới thiệu nấm Đầu Khỉ Hericium erinaceus (Bull. Nấm Đầu Khỉ (hay còn gọi là nấm Hầu Thủ) có tên khoa học là Hericium erinaceus là một loài nấm phân bố rộng rãi trên các vùng thuộc Bắc Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Âu, Bắc Mỹ. Loại nấm này mọc trên nhiều loại cây gỗ: nhóm sồi dẻ, các loài cây lá rộng đang sống hoặc đã bị mục nát cho đến tận vùng trong cùng (lõi gỗ) của cây, do đó có thể làm chết cây.
Tại Nhật Bản loại nấm này giống như một loại trang sức trên áo của các nhóm thảo khấu lục lâm thời xưa, nên được gọi là Yamabushitake. Tại Trung Quốc loài nấm này quả thể còn non nhỏ trông giống như đầu loài khỉ tay dài nên được gọi là Houtou (nấm Đầu Khỉ-Hầu Thủ). Loài nấm này thường được ngâm trong rượu thành Kim tửu, được dùng như một loại thực phẩm bổ dưỡng, tăng lực và đặc biệt là một loại dược phẩm quý, có giá trị cao trong phòng chống ung thư (Lê Xuân Thám,Ph. Nấm Đầu Khỉ ngoài tự nhiên Nấm Đầu Khỉ hoang dại thường mọc trong rừng sâu rậm rạp trên các cành gỗ đứng hoặc nằm của cây sồi hoặc các loại cây lá rộng khác, là loại nấm hoại sinh trắng, được nuôi trồng lần đầu tiên ở Trung Quốc, sau đó được trồng ở Nhật Bản, các nước Bắc Mỹ và Châu Âu; cho đến nay nó được sử dụng khá phổ biến ở dạng bột khô trong túi lọc với nước sôi như pha trà hay được ngâm trong rượu.
Nấm Đầu Khỉ khác nấm Linh Chi ở chỗ không chỉ là dược liệu quý mà còn là một loại nấm ăn ngon. Các thí nghiệm về độc tính đã được nghiên cứu kĩ lưỡng và cho thấy cả quả thể lẫn sợi nấm đều không hề có độc tính gì đối với con người (Nguyễn Lân Dũng, 2010). Vị trí nấm Đầu Khỉ trong phân loại nấm học Theo tác giả Nguyễn Lân Dũng trong cuốn “Công nghệ nuôi trồng nấm, tập 2”, nấm Đầu Khỉ Hericium erinaceus trong hệ thống phân loại của giới nấm: Giới (kingdom): Mycota (Fungi) Ngành (Division): Eumycota Ngành phụ (Subdivision): Basidiomycotina Lớp (Class): Hymenomycetes Lớp phụ (Subclass): Hymenomycetidae Bộ (Order): Hericiales Họ (Family): Hericiaceae Chi (Genus): Hericium Loài (Species): Hericium erinaceus. Đặc điểm hình thái quả thể và một số đặc tính sinh học của nấm Đầu Khỉ Quả thể nấm Đầu Khỉ dạng đầu, không phân nhánh, màu trắng, có kích thước 5- 20cm, có nhiều sợi dài dạng lông với kích thước khoảng 1-2mm x 1-5cm (Nguyễn Lân Dũng, 2010).
Bào tử nấm Đầu Khỉ Các tua nấm là tổ chức bào tầng (Hymenium) dài từ 0,8–8 cm, trên bề mặt các tua nấm phân bố dày đặc, các đảm bào tử trắng. Dưới kính hiển vi quang học phóng đại 200 – 400 lần có thể thấy rõ các đảm đơn bào. Đảm hình cầu hoặc hình trụ dài 26 – 36 µm, trên đầu tù có 4 gai nhọn (cuống bào tử) mang các bảo tử đảm hình cầu hoặc gần cầu, đường kính 5,5–7,8 µm, chính giữa các bào tử có 1 giọt nội chất hình cầu, rõ sáng. Kích thước bào tử 5,1- 7,6 x 5-7,6 µm (Lê Xuân Thám, 1999).
Theo Giáo trình môn học “Khái quát về nghề nhân giống và sản xuất nấm” của Bộ NN&PTNT năm 2009, ta có chu kỳ sống của đảm bào tử nấm như sau: Hình 2. Chu trình sống của nấm đảm 1. Đảm bào tử 2. Sự kết hợp 2 loại tơ sơ cấp có khả năng dung hợp 4.
Tơ thứ cấp lưỡng bội 5. Tế bào tạo đảm 7. Đảm có các bào tử 6 Quả thể nấm trưởng thành sinh sản và phát tán bào tử vào trong môi trường. Khi đảm bào tử gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, pH, dinh dưỡng) sẽ nảy mầm tạo thành hệ sợi nấm sơ cấp (Primary mycelium), đơn nhân (Monokaryons).
Sợi sơ cấp không có khả năng hình thành quả thể. Giai đoạn sợi sơ cấp diễn ra ngắn vì sợi sơ cấp có xu hướng chia nhánh và bắt cặp với nhau tạo thành hệ sợi song nhân (Dikaryons), gọi là hệ sợi thứ cấp (Secondary mycelium). Hệ sợi phát dục hình thành đảm quả thể, hệ sợi thứ cấp chiếm hầu hết chu kỳ sống của nấm đảm. Ở giai đoạn sinh dưỡng này, hệ sợi nấm dễ hấp thu và tích lũy dinh dưỡng để chuẩn bị hình thành quả thể.