phần mở đầu và kết luận, luận văn nghiên cứu gồm 4 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích thực trạng Chƣơng 4: Đề xuất giải pháp, kiến nghị 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khái niệm dịch vụ Có nhiều quan điểm và cách định nghĩa khác nhau về dịch vụ. Cũng giống nhƣ sản phẩm hữu hình, dịch vụ ( sản phẩm vô hình) là kết quả đầu ra của một quá trình hay một hoạt động nào đó. Theo từ điển tiếng Việt dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và đƣợc trả công [ từ điển tiếng việt,2004, NXB Đà Nẵng, tr256].
Theo Zeithaml và Britner(2000) dịch vụ là hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Philip Kotler $ Amstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Nhìn chung, mặc dù định nghĩa theo những khía cạnh khác nhau, song tựu trung lại các định nghĩa đều đề cập chung đến những nội dung sau: Dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con ngƣời, là hoạt động có tính đặc thù riêng của con ngƣời trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùng phát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyền.1 Những đặc tính của dịch vụ a.Tính vô hình. Phần lớn dịch vụ đƣợc xem là sản phẩm vô hình.
Dịch vụ không thể cân đo, đong, đếm, thử nghiệm hoặc kiểm định trƣớc khi mua để kiểm tra chát lƣợng. Với lý do là vô hình nên rất khó cho các nhà quản lý của các doanh nghiệp tìm hiểu 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận thức của khách hàng về dịch vụ của họ cũng nhƣ việc khách hàng đánh giá chất lƣợng dịch vụ nhƣ thế nào.Tính không đồng nhất. Dịch vụ có tính không đồng nhất, đặc biệt đối với những dịch vụ có hàm lƣợng cao về sức lao động của con ngƣời. Lý do là hoạt động của dịch vụ thƣờng thay đổi từ cá nhà cung cấp dịch vụ, từ khách hàng và chất lƣợng dịch vụ cung cấp cũng không theo từng ngày, tháng và năm kinh doanh.
Việc đòi hỏi chất lƣợng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên cũng sẽ rất khó đảm bảo. Một dịch vụ đƣợc thực hiện tại cùng một doanh nghiệp, cùng một nhân viên phục vụ nhƣng tại thời điểm khác nhau thì có thể đem lại hiệu quả rất khác nhau. Nhƣ vậy dịch vụ có tính không đồng nhất cao hay nói cách khác việc chuẩn hóa chất lƣợng dịch vụ rất khó thực hiện.Tính không thể tách rời. Trong dịch vụ thì sản xuất và tiêu thụ không thể tách rời (Caruana & Pitt, 1997).
Chất lƣợng dịch vụ không thể sản xuất trong nhà máy rồi chuyển hiện trạng đến khách hàng. Đặc biệt là các dịch vụ đòi hỏi có sự tham gia ít nhiều của khách hàng nhƣ dịch vụ khám chữa bệnh thì công ty dịch vụ ít thực hiện việc kiểm soát, quản lý về chất lƣợng vì khách hàng ảnh hƣởng đến quá trình này. Sự tham gia ý kiến của khách hàng trở nên quan trọng đối với chất lƣợng của hoạt động dịch vụ.Địa điểm giao dịch. Thông thƣờng để thực hiện một giao dịch thì khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ phải gặp nhau.
Do vậy, nhà cung cấp dịch vụ phải chọn địa điểm gần khách hàng của mình. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Khái niệm về dịch vụ công Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của ngƣời dân vì lợi ích chung của xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực thực hiện) nhằm đảm bảo ổn định và công bằng xã hội. Dịch vụ công thuộc về bản chất của bộ máy nhà nƣớc trong việc quản lý hành chính (governance) đối với mọi lĩnh vực và cung ứng dịch vụ công (public service delivery) cho các tổ chức và công dân trong xã hội. Theo tài liệu bồi dƣỡng Quản lý hành chính nhà nƣớc ngạch chuyên viên của Học viện hành chính quốc gia, dịch vụ công đƣợc hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp nhƣ sau: Theo nghĩa rộng: Dịch vụ công là những hàng hóa, dịch vụ mà nhà nƣớc can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng.
Theo đó, dịch vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm các hoạt động từ ban hành chính sách, pháp luật, tòa án,. cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng. Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ công đƣợc hiểu là những hàng hóa, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức, công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng. Dịch vụ công có những đặc trưng cơ bản sau: - Là những hoạt động phục vụ cho lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân.
- Do nhà nƣớc chịu trách nhiệm trƣớc xã hội về việc trực tiếp cung ứng hoặc ủy nhiệm việc cung ứng. Ngay cả khi chuyển giao dịch vụ này cho tƣ nhân cung ứng thì nhà nƣớc vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các khiếm khuyết của thị trƣờng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -Là các hoạt động có tính chất phục vụ trực tiếp, đáp ứng các nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân. -Bảo đảm tính công bằng và tính hiệu quả trong cung cấp dịch vụ.3 Khái quát đặc điểm dịch vụ tuyên truyền, hỗ trợ ngành thuế Dịch vụ tƣ vấn có thể là hoạt động mang tính chất dịch vụ - nhƣ một chức năng thuộc lĩnh vực hành chính của cơ quan thuế, tƣ vấn miễn phí cho tất cả các đối tƣợng nộp thuế, nhƣng cũng có thể đó là hoạt động mang tính chất của một dịch vụ tƣ – các đối tƣợng nộp thuế nào có nhu cầu cung cấp dịch vụ tƣ vấn thì phải trả phí dịch vụ cho hoạt động này, hiện nhà nƣớc mới chỉ áp dụng mô hình dịch vụ tƣ vấn thuế công do các Cục thuế thực hiện.
Dịch vụ ngành thuế có thể hiểu là các hoạt động của nhà nƣớc nhằm phục vụ các nhu cầu thiết yếu của ngƣời nộp thuế và ngƣời nộp thuế không phải trả chi phí dịch vụ, nhằm hƣớng tới một nền quản lý thuế hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế là ngƣời nộp thuế áp dụng cơ chế tự tính, tự kê khai và tự nộp thuế. Một cách cụ thể thì NNT đƣợc phòng tuyên truyền, hỗ trợ cung cấp các dịch vụ sau: - Xây dựng chƣơng trình, kế hoạch phổ biến chính sách pháp luật thuế cho NNT. - Trực tiếp hỗ trợ NNT thuộc Cục thuế quản lý trong việc thực hiện chính sách, pháp luật và thủ tục thuế. - Tổng hợp các vƣớng mắc của NNT về chính sách, thủ tục để đề xuất trình các cấp có thẩm quyền, giải quyết và xem xét.
- Cung cấp các thông tin cảnh báo và các thông tin hỗ trợ khác dựa trên hệ thống thông tin quản lý rủi ro của ngành thuế. - Tổ chức các buổi tập huấn, đối thoại chính sách cho NNT. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Phối hợp với các cơ quan tuyên giáo, đài phát thanh, truyền hình, báo chí để tuyên truyền pháp luật về thuế. - Tổ chức thực hiện công tác tôn vinh, khen thƣởng NNT thực hiện tốt nghĩa vụ thuế.4 Khái niệm về sự hài lòng.
Theo Fornell (1995) sự hài lòng hoặc sự thất vọng sau khi tiêu dùng, đƣợc định nghĩa nhƣ là phản ứng của khách hàng về việc đánh giá bằng cảm nhận sự khác nhau giữa kỳ vọng trƣớc khi tiêu dùng với cảm nhận thực tế về sản phẩm sau khi tiêu dùng nó. Theo Zeithaml & Bitner (2000), sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng đƣợc nhu cầu và mong đợi của họ. Kotler (2000), định nghĩa “Sự hài lòng nhƣ một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một ngƣời bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận đƣợc của sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ”. Sự hài lòng của khách hàng là việc khách hàng căn cứ vào những hiểu biết của mình đối với một sản phẩm hay dịch vụ mà hình thành nên những đánh giá hoặc phán đoán chủ quan.
Đó là một dạng cảm giác về tâm lý sau khi nhu cầu của khách hàng đƣợc thỏa mãn. Sự hài lòng của khách hàng đƣợc hình thành trên cơ sở những kinh nghiệm, đặc biệt đƣợc tích lũy khi mua sắm và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ. Sau khi mua và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ khách hàng sẽ có sự so sánh giữa hiện thực và kỳ vọng, từ đó đánh giá đƣợc hài lòng hay không hài lòng.1 Ý nghĩa sự hài lòng của người nộp thuế. Trong lĩnh vực quản lý thuế NNT và là đối tƣợng quản lý thuế và là khách hàng của cơ quan thuế.
Nhƣng khác với khách hàng trong khu vực tƣ, NNT thƣờng không đƣợc lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ về thuế bởi theo sự phân công quản lý, họ chỉ có thể nhận các dịch vụ hành chính công từ phía cơ quan quản lý thuế trực 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếp của mình. Do đó, sự hài lòng của NNT thƣờng không đƣợc quan tâm nhất là theo cơ chế “chuyên quản” trƣớc đây. Ngày nay, nhận thức đƣợc ý nghĩa và tầm quan trọng của việc làm hài lòng NNT, các cơ quan thuế dần nâng cao chất lƣợng dịch vụ nhằm đem lại sự thỏa mãn cho NNT. Vì thế, theo ý kiến tác giả có thể khái niệm về sự hài lòng của NNT nhƣ sau “ Sự hài lòng của NNT là sự đánh giá của NNT về chất lƣợng dịch vụ hành chính công do cơ quan thuế cung cấp”.5 Khái niệm về chất lƣợng dịch vụ.
Theo ISO 8402, chất lƣợng dịch vụ là “Tập hợp các đặc tính của một đối tƣợng, tạo cho đối tƣợng có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”.