CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC 1.1 Khái niệm Từ trước đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc. Những tác giả khác nhau có các cách tiếp cận khác nhau về sự hài lòng với công việc. Một số trích dẫn các định nghĩa phổ biến nhất về sự hài lòng với công việc sẽ được giới thiệu dưới đây: Một trong những định nghĩa thường xuyên được đưa ra về sự hài lòng với công việc là của Spector. Theo ông, sự hài lòng với công việc có liên quan đến cách mà mọi người cảm nhận về công việc và những khía cạnh khác của nó.
Sự hài lòng trong công việc có liên quan đến mức độ mọi người thích hay không thích công việc của họ. Đó là lý do tại sao sự hài lòng và không hài lòng trong công việc có thể xuất hiện ở bất kỳ một hoàn cảnh lao động nào. Hoppock (1935) đưa ra định nghĩa sự hài lòng trong công việc là sự kết hợp giữa tâm sinh lý và môi trường xung quanh làm cho một người thành thực nói ra rằng tôi hài lòng với công việc của mình. Vroom (1964) trong định nghĩa của ông về sự hài lòng trong công việc tập trung vào vai trò của người lao động trong công việc.
Do đó, ông định nghĩa sự hài lòng trong công việc chính là việc người nhân viên đó tập trung vào vị trí mà họ đang làm một cách hiệu quả. Lock (1969) thì định nghĩa sự hài lòng trong công việc là “một trạng thái cảm xúc thích thú có được do đạt được thành tích hay thể hiện được giá trị của người lao động”. Ông cũng cho rằng sự hài lòng trong công việc phụ thuộc vào những kỳ vọng của người lao động trong công việc. Luan van 9 Schultz (1982) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là “một khuynh hướng tâm lý của người lao động về công việc của họ - và điều này có liên quan đến một tập hợp nhiều thái độ khác nhau hay những cảm giác khác nhau”.
Theo Lofquist and Dawis (1991) sự hài lòng trong công việc là “sự đánh giá tích cực của người lao động về môi trường mục tiêu, có được từ việc những kỳ vọng của họ được đáp ứng bởi chính môi trường mục tiêu đó, đó là một trạng thái thích thú, đó là sự đánh giá việc môi trường lao động đáp ứng được kỳ vọng của người lao động đến mức độ nào”. George (2008) cho rằng sự hài lòng trong công việc là một tập hợp các cảm giác và niềm tin mà người lao động có về công việc của họ. Mức độ hài lòng trong công việc của người lao động có thể dao động từ sự hài lòng cao độ đến sự không hài lòng cao độ. Bên cạnh những thái độ tổng thể đối với công việc, người lao động có những thái độ đối với những khía cạnh khác nhau đối với công việc như là về loại công việc, những người đồng nghiệp, cấp trên hay cấp dưới và phần thưởng họ được nhận.
Như vậy, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự hài lòng công việc nhưng điểm chung của những định nghĩa trên đó là sự hài lòng trong công việc có được khi người lao động có cảm giác thích thú và có thái độ tích cực đối với công việc của mình. Liên quan đến nguyên nhân nào dẫn đến sự hài lòng công việc thì mỗi nhà nghiên cứu đề có cách nhìn, lý giải riêng qua các công trình nghiên cứu của họ. Phần tiếp theo sẽ đề cập đến các lý thuyết cùng với các nghiên cứu thực tiễn liên quan đến sự hài lòng công việc.2 Lý thuyết về sự hài lòng công việc a. Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Nói đến sự hài lòng nói chung người ta thường nhắc đến thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow.
Theo ông về căn bản, nhu cầu của con người được chia Luan van 10 làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs). Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố sinh lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ,. Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày. Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao.
Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân,… Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này. Từ lý thuyết này, ta có thể thấy các nhà quản lý cần phải biết được nhân viên của mình đang ở cấp bậc nhu cầu nào để từ đó động viên nhân viên của mình bằng cách đáp ứng các nhu cầu cá nhân đó của họ. Cấu trúc của Tháp nhu cầu có năm tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp. Tự thể hiện Được quý trọng Xã hội An toàn Sinh lý Nguồn: www.1 Các cấp bậc của nhu cầu Maslow Luan van 11 Năm tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow - Tầng thứ nhất: Các nhu cầu căn bản nhất thuộc về “sinh lý” (physiological) -thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
- Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) – cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo. - Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm (love/belonging) – muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy. - Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) – cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng. - Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) – muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt.
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ. Đây là lý thuyết về nhu cầu của con người và nó được xem xét và ứng dụng trong nghiên cứu này vì khi nhu cầu của con người nói chung hay nhân viên nói riêng được đáp ứng thì họ mới có thể có sự hài lòng trong công việc. Các nhu cầu trong lý thuyết này được đề cập dưới dạng các biến khác nhau.
Ví dụ như sự thỏa mãn về nhu cầu sinh lý, an toàn được thể hiện ở các biến đo lường sự hài lòng về thu nhập, phúc lợi. Sự thỏa mãn về nhu cầu xã hội và được quý trọng được thể hiện ở các biến đo lường sự hài lòng về đồng nghiệp, lãnh đạo và sự thỏa mãn về nhu cầu được tự thể hiện được thể hiện ở các biến đo lường sự hài lòng về đặc điểm công việc, đánh giá công việc. Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại: các nhân tố duy trì (Hygiene Factors) và các nhân tố động viên (Motivation Factors). Các nhân tố duy trì gồm chính sách công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, nếu được đáp ứng sẽ không có sự bất mãn trong công việc, nếu không được đáp ứng sẽ dẫn đến sự bất mãn.
Các nhân tố động viên gồm thành tựu, sự công nhận của tổ chức, bản chất công việc, trách nhiệm công việc, sự tiến bộ và thăng tiến, và triển vọng của sự phát triển. Nếu nhân viên được đáp ứng sẽ mang lại sự hài lòng công việc cho họ, ngược lại nhân viên sẽ không có sự hài lòng. Như vậy Herzberg tách biệt hai nhóm nhân tố này và cho rằng nhân tố duy trì ảnh hưởng đến sự không hài lòng và nhân tố động viên sẽ mang lại sự hài lòng cho nhân viên. Nhân tố động viên Nhân tố duy trì Nhân viên Nhân viên Nhân viên bất mãn và không còn không còn không có bất mãn bất mãn và có động lực nhưng không động lực có động lực (Nguồn www.2 Thuyết hai nhân tố của Herzberg Thông qua lý thuyết của Herzberg ta có thể thấy được tác động của nhân tố duy trì trong việc dẫn đến sự không hài lòng của nhân viên cũng như tầm quan trọng của nhân tố động viên trong việc mang lại sự hài lòng công việc cho nhân viên.
Thuyết công bằng của Adams (1963) Lý thuyết chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ so sánh giữa sự cống hiến của cá nhân đối với tổ chức và sự báo đáp mà mình nhận được từ tổ chức. Adams cho rằng mọi người thường có mong muốn nhận được những phần Luan van 13 thưởng tương xứng với những đóng góp hay công sức mà họ đã bỏ ra. Nếu một cá nhân nhận thấy bản thân được trả lương dưới mức đáng được hưởng, anh ta sẽ giảm nỗ lực của bản thân xuống để duy trì sự "sự cân bằng". Nếu anh ta nghĩ rằng đang được trả lương cao, anh ta sẽ cố gắng làm việc chăm chỉ hơn.
Tính công bằng trong công việc còn được xem xét qua tương quan giữa tỷ lệ đóng góp và những kết quả nhận được của một nhân viên với những nhân viên khác có hợp lý hay không. Trong trường hợp không cảm nhận được tính hợp lý, họ có thể tự đặt ra yêu cầu tăng hay giảm nỗ lực của bản thân để duy trì "sự cân bằng". Theo thuyết này, tạo được sự công bằng sẽ giúp thắt chặt mối quan hệ với nhân viên, động viên và gia tăng mức độ hài lòng của họ; từ đó nhân viên của bạn sẽ làm việc hiệu quả và gắn bó hơn với công việc. Ngược lại, nếu nhân viên cảm thấy những gì họ đóng góp nhiều hơn những gì họ nhận được, họ có thể mất đi sự hào hứng và nhiệt tình với công việc và công ty.