Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu tiếng Tày - Nùng trong truyền thông 1. Tình hình nghiên cứu lý luận về truyền thông Ở lĩnh vực nghiên cứu này từ nhiều năm nay, đã có một số công trình khoa học mang tính khái quát được công bố, cụ thể như sau: Các công trình nghiên cứu lý luận cơ bản về truyền thông như: Truyền thông xã hội của Phạm Hải Chung, Bùi Thu Hương cùng nhóm các tác giả (Nxb Thế giới, Hà Nội, 2016); Văn hóa truyền thông trong thời kỳ hội nhập của Hội nhà báo Việt Nam, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2013); Cẩm nang truyền thông xã hội B2B của Kipp Bodnar, Jeffrey L Cohen, Nguyễn Lâm Xuân Các dịch (Nxb Tổng hợp, Hồ Chí Minh, 2013); “Truyền thông đại chúng trong xã hội hiện đại” của Trần Hữu Quang (Báo Kinh tế, 2008); Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông của Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1995). Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập một cách tương đối hệ thống những khái niệm cơ bản về truyền thông, bản chất của hoạt động truyền thông trong môi trường toàn cầu hóa như hiện nay.
Đồng thời các công trình cũng chỉ ra vai trò quan trọng của báo chí, truyền thông trong đời sống của người dân từ việc thông tin, giao tiếp xã hội, đến việc chia sẻ kiến thức kinh nghiệm, giải trí. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ truyền thông Đã có những công trình khoa học tập trung tìm hiểu các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ truyền thông như: sách chuyên khảo Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng của Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam (Nxb Dân trí, Hà Nội, 6 c 2011); sách tra cứu Từ điển truyền thông đa ngôn ngữ với ngôn ngữ ký hiệu của Nguyễn Thành Thống (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002); bài viết Sử dụng ngôn ngữ chữ viết các DTTS trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Lai Châu hiện nay: thực trạng và kiến nghị của Thúy Ngoạn (Hội thảo Quốc gia Ngôn ngữ và văn học vùng Tây Bắc, Đại học Tây Bắc, 2014). Đây là những gợi ý cần thiết cho việc tìm hiểu ngôn ngữ trong truyền thông. Tình hình nghiên cứu về truyền thông cho DTTS Có một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến việc truyền thông cho đồng bào DTTS như: Sổ tay truyền thông dân tộc của Đài Tiếng nói Việt Nam (Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2015); Sổ tay truyền thông dân tộc bản tiếng Việt, 69 trang của UNESCO (2015); “Sự nghiệp phát triển truyền hình ở vùng DTTS”, Các DTTS Việt Nam thế kỉ XX của Hồ Anh Dũng (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001).
Cũng phải kể đến một số dự án, đề án lớn như: Dự án Tăng cường khả năng tiếp cập thông tin, truyền thông và sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số vào chính quyền cấp xã ở tỉnh Cao Bằng của Helvetas Vietnam (2011 - 2013); Nâng cao kỹ năng truyền thông về quyền thông tin cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đắk Lắk (2017); Đề án “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo giai đoạn 2016 - 2020” của Ủy ban dân tộc (2016 - 2020). Ngoài ra, còn có một vài luận văn, đề tài khoa học công nghệ như: Nghiên cứu xây dựng mô hình phối hợp sản xuất chương trình truyền hình tiếng dân tộc của Lê Hồng Minh (Đề tài NCKH cấp Bộ 2015); Chương trình truyền hình khoa giáo dành cho đồng bào DTTS ở Đài Phát thanh & Truyền hình tỉnh Bắc Kạn của Hà Thị Ngần (Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2015); Các ấn phẩm báo chí của thông tấn xã Việt Nam phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thời kì đổi mới của Trương 7 c Văn Quân (Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2008) Các công trình trên phần nào đã cung cấp những kỹ năng truyền thông, nâng cao chất lượng thông tin, tăng cường thông tin bằng tiếng DTTS nhằm tăng cường hiệu quả của truyền thông dân tộc, xóa đói giảm nghèo, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy đa dạng văn hóa. Những nghiên cứu về tiếng Tày - Nùng Ngôn ngữ DTTS, đặc biệt là tiếng Tày - Nùng luôn là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm, cụ thể như sau: 1. Chuyên luận đề cập đến tiếng Tày - Nùng Những nghiên cứu về ngôn ngữ DTTS, chính sách bảo tồn, phát triển ngôn ngữ DTTS trong đó có tiếng Tày - Nùng được đề cập trong các sách chuyên khảo tiêu biểu như: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Trần Trí Dõi (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1999); Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở Việt Bắc của Nguyễn Văn Lộc (Nxb Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2010); Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam của Tạ Văn Thông - Chủ biên (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2009); Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam từ những năm 90 của Lại Văn Toàn (Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002); Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và chính sách ngôn ngữ của Hoàng Tuệ, Nguyễn Văn Tài, Hoàng Văn Ma (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984); Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam của Viện ngôn ngữ học (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993).
Một vài bài viết trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã đề cập đôi nét về ngôn ngữ DTTS nói chung và tiếng Tày - Nùng nói riêng. Có thể kể đến các công trình như: “Vấn đề lựa chọn ngôn ngữ trong tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ ở một vài dân tộc thiểu số của Việt Nam” của Trần Trí Dõi (Tạp chí Ngôn ngữ, số 11, 2008); “Một số vấn đề về chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn 8 c Lợi (Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, 1999); “Một số vấn đề về chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc” của Nguyễn Văn Lợi (Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, 2000); “Từ điển học về việc bảo tồn, phát triển ngôn ngữ có nguy cơ tiêu vong ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Lợi (Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 4, 2012); “Về sự phát triển của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong thế kỉ XX” của Lý Toàn Thắng & Nguyễn Văn Lợi (Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, 2001). Tài liệu tập trung viết về tiếng Tày - Nùng Đã có các công trình nghiên cứu đi sâu tập trung vào một số khía cạnh của ngôn ngữ Tày - Nùng. Về chức năng xã hội, Nguyễn Hàm Dương có bài viết “Chức năng xã hội của tiếng Tày - Nùng” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, 1970).
Về ngữ pháp, nhóm các tác giả Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí có sách chuyên khảo Ngữ pháp tiếng Tày - Nùng (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971). Về chữ viết, Lương Bèn có công trình đã được công bố như Tình hình phát triển của chữ Tày - Nùng (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993) hoặc nhóm tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Lương Bèn, Nguyễn Văn Chiến có bài viết “Góp ý về cải tiến chữ Tày - Nùng” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, 1971). Ngoài ra đã có một số công trình để tra cứu về tiếng Tày - Nùng hoặc thành ngữ Tày, Nùng như: Từ điển Tày - Việt của tác giả Lương Bèn làm Chủ biên (Nxb Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2011); Từ điển Tày - Nùng - Việt của Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo (Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005). Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã nêu ở trên tập trung đi sâu, làm rõ các vấn đề như: dân tộc và ngôn ngữ; chữ viết, đặc điểm loại hình học, quan hệ cội nguồn của ngôn ngữ DTTS, các chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước, những kết quả nghiên cứu lý luận, những kinh nghiệm truyền thông, vấn đề học thuyết về truyền thông, truyền thông cho người DTTS, nâng cao việc tiếp cận thông tin ở vùng đồng bào dân tộc.
Các vấn đề liên quan đến hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS ở Việt Nam mới chỉ được đề cập một cách tản mạn, rải rác đây đó trong một số công trình nghiên cứu nhỏ lẻ. Theo 9 c khảo sát của chúng tôi, hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống về mọi mặt của hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ Tày - Nùng trên cả nước nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu ngôn ngữ Tày - Nùng trong truyền thông trên địa bàn Thái Nguyên 1. Một số khái niệm về truyền thông Đã có nhiều ý kiến đưa ra khái niệm về truyền thông như của tác giả Đinh Kiều Châu trong tài liệu Ngôn ngữ truyền thông và tiếp thị - Góc nhìn từ lí luận đến thực tiễn tiếng Việt, của tác giả Phạm Thành Hưng trong tài liệu Thuật ngữ báo chí - truyền thông nhưng theo chúng tôi khái niệm truyền thông mà tác giả Nguyễn Văn Dững đưa ra thì sâu sắc và toàn diện hơn cả, theo đó: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm., chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa 2 hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh, nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững” [17, tr15].
Như vậy, truyền thông là tác nhân tạo nên liên kết xã hội không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi khu vực và quốc tế. Là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, truyền thông giúp tạo nên tính dân chủ trong xã hội. Truyền thông giúp cho người dân được nói lên tiếng nói bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình.