mở đầu cuộc thoại) còn có chức năng biểu lộ thái độ, tình cảm cũng như vị thế của các nhân vật hội thoại. Chúng tôi tìm hiểu ba chức năng cơ bản của từ xưng hô là chức năng định vị, chức năng chiếu vật và chức năng thể hiện quan hệ liên cá nhân. CHỨC NĂNG ĐỊNH VỊ CỦA TỪ XƯNG HÔ. Trong công trình [23] Đỗ Hữu Châu đã khẳng định: “Trong ngôn ngữ tất cả các câu nói, bằng cách này hay cách khác đều phải có những yếu tố đóng vai trò định vị" [23, 130].
Khái niệm định vị được J.Lyons phát biểu như sau : " Định vị được hiểu là sự xác định và sự đẳng nhất người, quá trình, sự kiện mà người ta nói đển và qui chúng với một ngữ cảnh không - thời gian nào đó được tạo nên và được duy trì bởi hành động phát ngôn và bởi sự tham gia của một người nói duy nhất và ít ra là với một người nghe" [148, 260]. Từ định nghĩa của J.Lyons, chúng ta thấy, sự định vị trong lời nói phải được thực hiện bởi các nhân vật hội thoại - người nói và người nghe. 18 Ba phạm trù định vị đã được ngữ pháp hôá và đã được nghiên cứu trong ngữ pháp cổ điển là phạm trù ngôi (nhân xưng) địa điểm và thời gian. Ở luận án này, chúng tôi chỉ tìm hiểu phạm trù định vị trong ngôi nhân xưng qua các từ xưng hô - yếu tố định vị của ngôi.
Theo quan sát của chúng tôi, yếu tố định vị đóng vai trò căn bản trong tất cả các phát ngôn có sử dụng từ xưng hô. Con người luôn ở vào thế giao tiếp với nhiều lớp người, loại người khác nhau về địa vị xã hội, lứa tuổi, giới tính, trình độ học vấn. và giao tiếp cũng diễn ra ở ngữ cảnh rộng, hẹp khác nhau như không gian, thời gian cũng như tính chất qui thức hay bất qui thức của cuộc giao tiếp. Chính vì thế, các nhân vật hội thoại luôn luôn phải tựa chọn và sử dụng các từ xưng hô sao chô phù họp với từng loại quan hệ vai và phù họp với ngữ cảnh giao tiếp.
Có nghĩa là, tùy vào môi quan hệ của ego+ (+ ego là thuật ngữ của dân tộc học chỉ cái Tôi ) với người đối thoại mà ego có thể xưng em ở vị trí 1 nhưng có thể xưng anh ở vị trí 2, hôặc xưng bố ở vị trí 3. Việc thay đổi này được thực hiện nhờ vào điểm gốc qui định chỗ đứng của ego. Nói rõ hơn, ego có thể thay đổi từ xưng hô khi vị thế của ego không còn giữ nguyên vị trí ban đầu. Điều này chứng tỏ vị thế của nhân vật hội thoại là tương đối.
Orecchioni nhận xét "Tương tác là một qúa trình động. Ở T1, L1 có thể ở vị thế cao nhưng ở T2, L1 lại ở vị thế thấp. Đồng thời anh ta có thể mạnh ở mặt này nhưng lại yếu mặt kia; ví dụ người phỏng vấn và người được phỏng vấn" [I49,48]. Do dó, các nhân vật hội thoại muốn sử đụng từ xưng hô chô hợp lý thì phải xác định (định vị) được vị thế của mình với vị thế của người đối thoại.
Trong giao tiếp, chúng ta thường có một bộ tiêu chí để định vị vị thế của mình và vị thế của người đối thoại như tuổi tác, quan hệ gia đình, quan hệ xã hội, vị thế giao tiếp. Căn cứ vào vai trò định vị của từ xưng hô trong hôạt động giao tiếp thì những từ mang ý nghĩa chỉ quan hệ như "anh", "em", "cha", "mẹ", "ông", "bà", "chú", "bác" "cậu", "dì", "thím" .là những từ không có ý nghĩa biểu vật như những từ miêu tả chân chính. So sánh các từ "anh", "cha", "chú", "cậu". với "đàn ông" và so sánh các từ "chị", "mẹ", "cô", "dì".
với "đàn bà" sẽ làm nổi giá trị thực trong phạm vi định vị của các từ này. Ví dụ : Nhân vật A là "em" của nhân vật B "chị" của nhân vật C "em" của nhân vật B 19 "cô" của nhân vật D Nhưng dù mang vai là "em", "chị" hay "cô" với bất kỳ một nhân vật nào thì A vẫn chỉ là một người "phụ nữ", một người "đàn bà" mà thôi. Cũng như vậy, một người nào đó có thể là "em" đối với A ở điểm mốc này nhưng lại là "anh" của B ở điểm mốc khác hay là "bác" là "ông" của C thì anh ta cũng chỉ là một người "đàn ông" mà thôi. Nói tư xưng hô có chức năng định vị trong quá trình hội thoại, điều ấy có nghĩa là từ xưng hô có tác dụng tự bộc lộ vị thế của người nói về người nghe.
Người nói tự xác định và "ý thức" về vị thế của người đối thoại so với bản thân mình mà sử dụng các từ xưng hô tương ứng. Đồng thời, qua các từ xưng hô, người nghe cũng nhận biết đươc thái độ, tình cảm của người nói đối với mình. Từ xưng hô có thể giúp chô người ngoài cuộc cũng có những hiểu biết nhất định về quan hệ của các nhân vật hội thoại chẳng hạn, một người được gọi là "chú" hay tự xưng là "chú" tất hẳn ẩn dấu quan hệ đã được xác định qua từ xưng hô đó. Tuy điểm gốc và vật chuẩn đưa ra ta mới có thể kết luận được quan hệ của các nhân vật hội thoại.
Nêu yếu tố định vị ở đây là quan hệ xã hội đơn thuần thì người được gọi hay xưng là "chú", thường là người có độ tuổi chênh lệch so với người đối thoại khôảng một thế hệ (từ 15 - 20 tuổi). Chúng ta cũng chỉ đoán nhận được mối quan hệ giữa hai nhân vật hội thoại trên là quan hệ tuổi tác, giới tính. Nếu yếu tố định vị là quan hệ trong gia tộc thì nhân vật được gọi là "chú" thường là em trai ruột (hay em họ) của bố lấy thế hệ con là chuẩn. Trong công trình [24] , khi giới thiệu về sự định vị xã hội, Đỗ Hữu Châu chỉ rõ "Trong tiếng Việt, ngoài một số từ như "ngài", "bệ hạ".
các từ định vị xã hội đều dựa vào sự định vị trong gia đình, họ hàng như "ông", 'bà", "anh", "chị". Sự định vị này khiến chô các mối quan hệ ngoài xã hội trở nên thân thiết hơn. Như vậy, gọi một nhân vật nào đó là "em" hay "anh" hôặc bất luận một từ nào khác trong hệ thống từ xưng hô là phụ thuộc vào sự định vị vị thế của người nói. Trong hôạt động giao tiếp, tùy vào từng ngữ cảnh giao tiếp, tùy vào từng đối tượng giao tiếp cụ thể mà các nhân vật hội thoại có thể chọn tựa các nguyên tắc định vị khác nhau.
Hai nguyên tắc định vị thường được sử dụng trong giao tiếp là nguyên tắc tự ngã trung tâm và nguyên tắc lấy người khác làm trung tâm. 20 Nguyên tắc tự ngã trung tam có nghĩa là người nói tự lấy mình, lấy ego làm gốc để qui chiếu và lấy tình thế giao tiếp mặt đối mặt (đương diện ) làm tình thế chuẩn. Nói cách khác, Sữ dụng nguyên tắc tự ngã trung tâm tức là người nói lấy bản thân mình, lấy cái tôi (ego) của mình mà giao tiếp với nhân vật khác. Nguyên tắc lấy người khác làm trung tâm hay còn gọi là nguyên tắc gọi thay ngôi.
Nguyên tắc gọi thay ngôi "là một vế đặc biệt của sự xưng hô mà người được gọi lại giữ một "vai" khác trong mối quan hệ xã hội với người khác thay vì chô người đang xưng hô với mình" [30, 62]. Nguyên tắc gọi thay ngôi được các nhân vật hội thoại sử dụng hết sức linh hôạt, phông phú và đa dạng. Nhờ nguyên tắc gọi thay ngôi mà các nhân vật giao tiếp có thể vượt qua được những "mâu thuẫn", những băn khôăn khi phải tựa chọn từ xưng hô. Chẳng hạn, trong gia tộc, A là anh của B nhưng B lại có địa vị xã hội cao hơn A.
Nến A dùng cặp từ xưng hô anh - em thì có sự "mâu thuẫn" giữa quan hệ gia tộc và địa vị xã hội. Do đó, "Trường hợp gặp người đối thoại có thứ bậc thấp hơn mình nhưng đã lớn, đã có cương vị trong xã hội là phải đổi lại cách xưng hô bằng cách thay vào đó cách xưng hô của bậc con, bậc cháu mình (chẳng hạn, thay em bằng chú, bằng cô, thay cháu bằng anh, bằng chị)”[12, 142]. Nhiều khi không nhất thiết là người đối thoại có địa vị xã hội thấp hơn mình mới phải sử dụng nguyên tắc gọi thay ngôi. Chẳng hạn, một vị giáo sư đi đón cháu ở mẫu giáo, gặp cô giáo của cháu mình, vị giáo sư có thể nói : "Xin phép cô, tôi đón cháu về".
Xét về tuổi tác, vị giáo sư hơn tuổi cô giáo của cháu mình. Xét về cương vị xã hội, giáo sư cũng có cương vị cao hơn nhưng vẫn gọi người đối thoại bằng "cô" thay chô cháu mình. Việc gọi thay ngôi ở đây thể hiện thái độ tốn trọng của vị giáo sư đối với cô giáo của cháu mình. Giáo sư gọi cô giáo của cháu mình là "cô" và tự xưng là "tôi".
Cách xưng "tôi" vẫn giữ được vị thế của giáo sư trước cô giáo của cháu mình. Tóm lại, với những từ xưng hô nhất định, nhân vật giao tiếp có thể bộc lộ nhận thức của mình với đối tượng cùng giao tiếp. Mặt khác từ xưng hô cũng xác định rõ hơn quan hệ giữa người nói, người nghe qua chức năng định vị của mình.Lyons từng coi chức năng định vị là chức năng thứ nhất, quan trọng của đại từ khi ông viết : "Nói các đại từ đại diện về mặt ngữ nghĩa chô danh từ và đó là chức năng thứ nhất của chúng thì thật sai lầm. Thứ nhất, theo cách hiểu như vậy, người ta không phân biệt giữa tên và các biểu thức định danh, các biểu thức danh ngữ.
Các đại từ là các biểu thức chiếu vật 21 đều tương đương theo quan điểm ngữ pháp với các tên gọi, với các danh từ. Nói các đại từ trước hết là các từ thay thế là bất kể nó thay thế chô danh từ hay chô các biểu thức danh ngữ. Nghĩa là, người ta chô rằng, các chức năng thay thế trong văn bản (chức năng hồi chỉ) quan trọng hơn chức năng định vị của chúng mà chúng ta hiểu rằng, trong hai chức năng đó thì chức năng định vị mới là chức năng thứ nhất. CHỨC NĂNG CHIẾU VẬT CỦA TỪ XƯNG HÔ.
Ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm là hai khái niệm của ngữ nghĩa học. Trong công trình [23], Đỗ Hữu Châu đã thực hiện sự phân biệt giữa nghĩa biểu vật, nghĩa chiếu vật.