CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ CHẤP NHẬN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ INTERNET BANKING CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. TỔNG QUAN VỀ INTERNET BANKING 1. Khái niệm Internet Banking là một hệ thống cho phép cá nhân thực hiện các hoạt động, các giao dịch với NH ngay tại nhà hay bất cứ nơi đâu thông qua Internet. Như những hình thức giao dịch với NH truyền thống, IB cho phép khách hàng thực hiện tất cả các giao dịch hằng ngày, chẳng hạn như chuyển khoản, truy vấn thông tin tài khoản, thanh toán hóa đơn và thậm chí một số các ứng dụng giúp giải quyết các khoản vay cũng như liên quan đến thẻ tín dụng.
Thông tin tài khoản có thể được truy cập bất cứ lúc nào dù ngày hay đêm, và có thể được thực hiện từ bất cứ nơi nào có kết nối Internet. v Một số các nhận định về Internet Banking Lau (1997), Liao và cộng sự (1999) đã định nghĩa IB như việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng qua mạng máy tính truy cập mở (tức là Internet) tại nhà của khách hàng. IB được xem như là các hệ thống cho phép các khách hàng của ngân hàng có thể truy cập, tiếp cận tài khoản cũng như những thông tin chung của họ về các sản phẩm hay các dịch vụ của ngân hàng thông qua việc sử dụng các website ngân hàng mà không cần tới sự can thiệp từ việc phải gửi thư, fax hay chữ ký gốc và sự xác nhận qua điện thoại (Henry, 2000). Chang (2003), Sullivan và Wang (2005) cho rằng IB là một tiến trình đổi mới, cách tân tại nơi các khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng Luan van 7 mà không cần phải tiếp xúc với nhân viên ngân hàng.
Nó cũng cho phép những người không phải là khách hàng của ngân hàng truy cập và tìm hiểu NH thông qua mạng lưới công cộng (Internet) trong khi Phone Banking hay các hình thức khác của E-banking chỉ cung cấp thông qua các mạng lưới giới hạn hơn, gần hơn với những giao dịch có sự tồn tại của các nhân viên ngân hàng. IB cho phép chỉ cần sử dụng mạng hay công nghệ viễn thông, khách hàng có thể yêu cầu thông tin và thực hiện các dịch vụ ngân hàng bán lẻ hầu hết mọi lúc 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, và 365 ngày một năm từ tất cả các địa điểm truy cập Internet có sẵn (Podder, 2005).2 Các cấp độ của Internet Banking Diniz (1998), Henry (2000) và Mu Yibin (2003) đã chỉ ra 3 cấp độ thuộc về chức năng của Internet Banking hiện tại có mặt trên thị trường. v Cung cấp thông tin (Informational)- Đây là cấp độ đầu tiên của IB. Thông thường, các NH giới thiệu, quảng bá thông tin về các sản phẩm và dịch vụ của NH bởi một máy chủ độc lập.
Mức độ rủi ro do đó rất thấp bởi vì hệ thống thông tin riêng biệt giữa máy chủ và mạng lưới bên trong của NH. v Trao đổi thông tin (Communicative)- Loại hình này của NH cho phép một số tương tác giữa hệ thống của NH và khách hàng, được giới hạn ở một số hình thức như email, vấn tin thông tin tài khoản, ứng dụng cho phép thực hiện vay hay cập nhật file thông tin cố định (tên, địa chỉ.) mà không cho phép thực hiện bất kỳ sự chuyển khoản nào. v Giao dịch (Transactional)- Cấp độ này cho phép khách hàng thực hiện việc chuyển khoản từ tài khoản, thanh toán hóa đơn và kiểm soát các giao dịch khác với NHTT. Ưu và nhược điểm của Internet Banking a.
Ưu điểm Ø Đối với khách hàng Lợi ích lớn nhất mà NHTT đem lại đó chính là sự tiết kiệm thời gian một Luan van 8 cách đáng kể từ việc thực hiện các giao dịch ngân hàng tự động và sử dụng IB như là một công cụ dễ dàng để quản lý tài chính. IB giúp cho khách hàng có thể liên lạc với ngân hàng một cách nhanh chóng, thuận tiện để thực hiện một số nghiệp vụ ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào (24 giờ mỗi ngày, 7 ngày một tuần) và ở bất cứ nơi đâu. Đây là lợi ích mà các giao dịch kiểu ngân hàng truyền thống khó có thể đạt được. Thứ hai, tăng sự thuận tiện và tiết kiệm chi phí, từ đó làm tăng sự hài lòng và trung thành của khách hàng với ngân hàng.
Chi phí cho các giao dịch qua mạng ít hơn rất nhiều so với giao dịch trực tiếp tại các chi nhánh ngân hàng do khách hàng không phải tốn chi phí đi lại cũng như không phải trả phí phục vụ cho ngân hàng. Thứ ba, nhanh chóng và chính xác: IB cho phép khách hàng thực hiện và xác nhận các giao dịch với độ chính xác cao rất nhanh chỉ trong vài giây. Thứ tư, hiệu quả trong việc quản lý tiền và tài sản: Các trang web IB cung cấp cho khách hàng các công cụ tinh vi như các chương trình báo giá chứng khoán, thông báo lãi suất, quản lý danh mục đầu tư.với những thông tin “nóng” nhất, nhằm giúp khách hàng quản lý hiệu quả tất cả các tài sản của mình. Ø Đối với ngân hàng: Thứ nhất, tiết kiệm thời gian và chi phí: IB giúp các ngân hàng giảm bớt gánh nặng về các thủ tục hành chính và vận hành, mang lại cho ngân hàng năng suất cao, sự tự động hóa.
Các ngân hàng sử dụng IB sẽ cắt giảm được công việc giấy tờ, giảm chi phí hoạt động và tăng tốc độ giao dịch. Ngân hàng cũng có thể giảm bớt nhân lực ở các quầy giao dịch, giảm bớt sai sót thao tác và sử dụng cán bộ hữu hiệu hơn. Thật vậy, theo một nghiên cứu của Booz, Allen và Hamilton chi phí trung bình cho một giao dịch thông thường tại chi nhánh ở Mỹ là 1. Trong khi đó, giao dịch qua điện thoại là 54 cents, qua ATM là 27 cents và ở mức thấp nhất đó là chi phí trung bình cho một giao Luan van 9 dịch IB chỉ 1,5 cents (Nathan 1999; Pyun và cộng sự, 2002).
Tại Phần Lan, chi phí trung bình cho một giao dịch thông qua NHTT chỉ mất 11 cents trong khi chi phí đó tại chi nhánh là 1$ (Dynamo và cộng sự, 2001). Rõ ràng phí giao dịch IB được đánh giá ở mức rất thấp so với các giao dịch truyền thống, từ đó góp phần làm giảm chi phí, tăng doanh thu cho hoạt động NH. Thứ hai, mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh: Internet Banking cho phép các ngân hàng tiếp cận các khách hàng ở rất xa trụ sở ngân hàng, giúp tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng mới, duy trì khách hàng hiện tại. IB là một giải pháp của NHTM để nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM.
Điều quan trọng hơn là IB giúp ngân hàng thương mại thực hiện chiến lược “toàn cầu hóa” mà không cần mở thêm chi nhánh ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Thứ ba, cung cấp dịch vụ trọn gói: giúp cho các NH tăng khả năng chăm sóc khách hàng cũ cũng như thu hút thêm khách hàng mới. Nhờ có IB khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận nhiều sản phẩm và dịch vụ tài chính của ngân hàng sẵn có qua mạng. Các ngân hàng có thể liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính để đưa ra các sản phẩm tiện ích đồng bộ nhằm đáp ứng nhu cầu của một khách hàng về các dịch vụ liên quan tới ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán.
Thật vậy, chính sự tiện lợi có được từ công nghệ ứng dụng, từ phần mềm, từ nhà cung cấp dịch vụ mạng, dịch vụ Internet đã thu hút và giữ khách hàng sử dụng, quan hệ giao dịch với NH, trở thành khách hàng truyền thống của NH. Với mô hình NH hiện đại, kinh doanh đa năng thì khả năng phát triển, cung ứng các dịch vụ cho nhiều đối tượng khách hàng, nhiều lĩnh vực kinh doanh của IB là rất cao Thứ tư, xét về mặt kinh doanh, IB còn giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Thông qua kênh phân phối này, các lệnh về chi trả, nhờ thu Luan van 10 của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện thực hiện tốt quan hệ giao dịch. Nhược điểm Ø Đối với khách hàng: Về vấn đề bảo mật, an toàn cho khách hàng là điều đáng lo ngại nhất.
Đối với nhiều người, trở ngại lớn nhất của IB là không an tâm khi sử dụng kênh phân phối này. Sẽ có những câu hỏi hoài nghi như: giao dịch có thành công không?,tôi đã nhấn nút chuyển tiền một hay hai lần? .Cách tốt nhất là luôn in các biên nhận giao dịch và giữ lại cùng với các chứng từ ngân hàng cho tới khi các giao dịch này được cập nhật trên trang thông tin cá nhân hay trên bản sao kê của ngân hàng. Bên cạnh đó, rủi ro trong hoạt động dịch vụ này là không nhỏ, khách hàng chưa được quan tâm đúng mức, máy tính cá nhân không được cài đặt phần mềm chính hãng của các công ty uy tín, khách hàng có thể bị mất mật khẩu truy nhập tài khoản, từ đó dẫn đến bị mất tiền do bị “Hacker” ăn cắp bằng công nghệ cao; hoặc do thiếu thông tin, giao dịch các web lạ, chưa rõ nguồn gốc dẫn đến bị lừa đảo. Vì vậy việc nhận thức được những rủi ro trên từ phía người sử dụng là rất quan trọng, góp phần đáng kể vào việc giảm rủi ro trong giao dịch IB.
Thứ hai, khách hàng phải chịu nhiều loại phí khác nhau cho dịch vụ IB: phí cho các lần giao dịch chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, phí gia nhập, phí thường niên, phí sử dụng thiết bị bảo mật như Smart card, Token. Lợi ích chưa thấy nhưng trước mắt phải mất nhiều khoản phí như vậy là những rào cản để khách hàng tiếp cận dịch vụ IB. Bên cạnh đó, để sử dụng dịch vụ IB, khách hàng vẫn phải trực tiếp đến NH, điền vào phiếu đăng ký và trình chứng minh thư tại ngân hàng để được cấp mã số truy cập và mật khẩu. Tuy việc đăng ký trực tiếp tại NH sẽ đảm bảo an toàn cho tài khoản của KH hơn so với đăng ký online nhưng khách Luan van 11 hàng sẽ mất thời gian và chi phí đi lại.
Vấn đề đặt ra là phải đảm bảo cho khách hàng có thể đăng ký sử dụng dịch vụ trực tuyến song vẫn đảm bảo độ an toàn cao cho tài khoản của khách hàng.