Tổng quan luận án
Nghiên cứu về bệnh học cổ tử cung và các tác nhân virus đóng vai trò quan trọng trong y tế công cộng và y học dự phòng. Luận án tiến sĩ y học của tác giả Dương Mỹ Linh với đề tài "Nghiên cứu sự biến đổi HPV-DNA và tế bào học cổ tử cung ở phụ nữ 18 – 69 tuổi nhiễm HPV tại thành phố Cần Thơ" thuộc ngành Y tế công cộng (mã số: 62.01), được thực hiện tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Ngọc Dung và PGS.TS. Phạm Thị Tâm.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến hàng đầu ở nữ giới, đứng hàng thứ ba trong các ung thư ở phụ nữ nói chung và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở nhóm tuổi 15 – 44. Theo ước tính toàn cầu năm 2020, có khoảng 604.127 trường hợp mắc mới và 341.831 trường hợp tử vong do bệnh lý này. Tại Việt Nam, thống kê năm 2018 ghi nhận khoảng 4.177 ca mắc mới và 2.420 ca tử vong. Y văn thế giới đã xác định khoảng 99% các trường hợp ung thư cổ tử cung dương tính với các chủng Human papillomavirus (HPV) thuộc nhóm nguy cơ cao. Mặc dù phần lớn các trường hợp nhiễm HPV có thể tự đào thải mà không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, tình trạng nhiễm HPV kéo dài với các chủng nguy cơ cao là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến các tổn thương biểu mô từ mức độ thấp tiến triển thành tổn thương tiền ung thư và ung thư xâm lấn.
Các kỹ thuật sàng lọc truyền thống, chi phí thấp như phết tế bào cổ tử cung (PAP smear) và thử nghiệm quan sát cổ tử cung với acid acetic (VIA) đã được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện tổn thương biểu mô tại cộng đồng thông qua các kỹ thuật này còn hạn chế. Nghiên cứu cắt ngang của Trần Ngọc Dung (2016) trên phụ nữ tại thành phố Cần Thơ ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là 6,64%, tỷ lệ PAP bất thường là 0,47% và VIA bất thường là 8,93%; đồng thời chưa làm rõ được mối liên quan nhân quả giữa nhiễm HPV và tổn thương tế bào biểu mô tại một thời điểm cắt ngang duy nhất. Khoảng trống thực tiễn đặt ra là cần theo dõi dọc theo thời gian sự biến đổi của HPV-DNA cũng như biến đổi tế bào học cổ tử cung trên cùng một quần thể phụ nữ để làm sáng tỏ quy luật thoái triển, tồn tại dai dẳng hoặc tiến triển tổn thương.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định tỷ lệ biến đổi HPV-DNA, các type nhiễm HPV, biến đổi tế bào học cổ tử cung và các mối liên quan giữa biến đổi HPV với biến đổi tế bào học cổ tử cung ở phụ nữ 18 – 69 tuổi nhiễm HPV tại thành phố Cần Thơ giai đoạn 2013 – 2020.
- Xác định một số yếu tố nguy cơ biến đổi HPV-DNA và biến đổi tế bào học cổ tử cung ở phụ nữ 18 – 69 tuổi nhiễm HPV tại thành phố Cần Thơ giai đoạn 2013 – 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ từ 18 đến 69 tuổi cư trú tại thành phố Cần Thơ từ 12 tháng trở lên, đã có quan hệ tình dục và từng tham gia vào nghiên cứu sàng lọc năm 2013 tại địa phương.
- Phạm vi không gian: Trạm y tế các phường/xã thuộc 9 quận/huyện của thành phố Cần Thơ.
- Phạm vi thời gian: Theo dõi đoàn hệ qua 2 giai đoạn kéo dài từ năm 2013 đến tháng 12 năm 2020 (giai đoạn 1 từ 2013 đến 2018; giai đoạn 2 từ 2018 đến 2020; các mốc thu thập mẫu thực địa tiến hành vào các năm 2013, 2018 và 2020).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế
Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu cơ bản và dịch tễ học liên quan đến HPV và tổn thương cổ tử cung:
- Cơ chế virus học và sinh bệnh học: Javid Sadri Nahand (2020) chỉ ra rằng cơ chế lẩn tránh hệ miễn dịch là yếu tố quan trọng giúp HPV tồn tại dai dẳng; sự mất cân bằng giữa các cytokine Th1 và Th2 ở giai đoạn sau gây đáp ứng miễn dịch kém, dẫn đến sự biểu hiện quá mức của các gen sinh ung E6 và E7. Lijuan Yang (2014) ghi nhận các biến thể di truyền của gen E6, E7 thuộc các type nguy cơ cao liên quan mật thiết đến sự hình thành khối u ác tính. Tại Việt Nam, Phạm Văn Hán (2016) phát hiện đột biến D25E/D25K trên motif của gen E6 ở chủng HPV16, giúp virus thoát khỏi sự kiểm soát của hệ kháng nguyên bạch cầu người HLA-A2, tạo điều kiện cho virus tồn tại dai dẳng.
- Tiến triển tự nhiên của tổn thương tế bào học và CIN: Joseph P. Connor chỉ ra rằng khoảng 45% tổn thương tân sinh trong biểu mô cổ tử cung (CIN) sẽ tự thoái lui, 31% tồn tại kéo dài và 23% tiến triển (trong đó 14% tiến triển thành ung thư tại chỗ và 1,4% thành ung thư xâm lấn); phần lớn tổn thương mức độ thấp tự thoái triển trong vòng 2 năm. Joseph P. Connor cũng ghi nhận việc thực hiện xét nghiệm PAP định kỳ liên tiếp trong 10 năm giúp giảm 64% nguy cơ ung thư cổ tử cung. M. Chantal Umulisa (2018) nhận thấy 50 – 80% phụ nữ nhiễm HPV trong 2 – 3 năm đầu sau quan hệ tình dục, khoảng 70% tự đào thải sau 1 năm và 90% đào thải sau 2 năm. Waren Levinson (2014) nhấn mạnh quá trình tiến triển từ tổn thương tiền ung thư sang ung thư xâm lấn phụ thuộc vào độ tuổi, mức độ tổn thương ban đầu và kết quả can thiệp điều trị.
- Dịch tễ học phân bố type HPV: Thống kê của ICO/IARC (2019) cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ Việt Nam dao động từ 2,5% đến 10,2%, và 90% các trường hợp nhiễm trên thế giới do 8 type phổ biến gây ra (16, 18, 45, 31, 33, 52, 58, 35). Chichao Xia (2021) và Elkanah Omenge Orang’o (2020) công bố các dữ liệu về phân bố chủng, trong đó type 16, 18, 52 chiếm ưu thế tại nhiều quần thể nghiên cứu.
- Mối liên quan giữa HPV và xét nghiệm sàng lọc: Hoàng Thị Thanh Huyền (2014) ghi nhận nhiễm type HPV nguy cơ cao làm tăng nguy cơ bất thường PAP lên 21,6 lần. Trần Ngọc Dung (2016) và Dai Zhang (2017) đều báo cáo sự gia tăng tỷ lệ nhiễm HPV ở nhóm phụ nữ có kết quả PAP bất thường so với nhóm bình thường.
- Yếu tố hành vi và nguy cơ: Hirut Teame (2018) và Nainakshi Kashyap (2019) chứng minh hành vi tình dục (số lượng bạn tình của phụ nữ và của chồng) làm tăng nguy cơ tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung. Về viêm nhiễm đường sinh dục, Jiraporn (2016) và Sabeena Jayapalan (2020) không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) với tổn thương tế bào học cổ tử cung.
Vị trí và khoảng trống giải quyết
Trong khi phần lớn các công trình trong nước trước đây dừng lại ở thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang tại một thời điểm hoặc trên bệnh nhân đã có tổn thương tại bệnh viện, luận án của tác giả Dương Mỹ Linh đã lựa chọn thiết kế nghiên cứu đoàn hệ theo dõi dọc suốt 7 năm (2013 – 2020) trên quần thể phụ nữ tại cộng đồng. Luận án giải quyết khoảng trống về dữ liệu biến đổi theo thời gian của HPV-DNA, sự thay đổi kiểu hình tế bào học (PAP, VIA, mô bệnh học) và xác định các yếu tố nguy cơ độc lập ảnh hưởng đến sự biến đổi HPV-DNA theo chiều hướng xấu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và phân loại
- Phân loại HPV:
- Nhóm nguy cơ thấp: Gây mụn cóc sinh dục hoặc u lành tính (các type 6, 11, 13, 34, 40, 42, 43, 44, 57, 61, 71, 81).
- Nhóm nguy cơ cao: Có khả năng tích hợp DNA vào bộ gen tế bào vật chủ, gây rối loạn sinh sản tế bào và tạo u ác tính (các type 16, 18, 31, 33, 34, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66, 68, 70).
- Nhóm chưa xác định nguy cơ: Gồm các type 2a, 3, 7, 10, 27, 28, 29, 30, 32, 55, 62, 67, 69, 74, 77, 83, 84, 85, 86, 87, 90, 91...
- Định nghĩa chiều hướng biến đổi xét nghiệm:
- Biến đổi theo chiều hướng xấu: Kết quả xét nghiệm chuyển từ âm tính ở lần trước sang dương tính/bất thường ở lần kiểm tra sau.
- Biến đổi theo chiều hướng tốt (đào thải/thoái lui): Kết quả xét nghiệm chuyển từ dương tính/bất thường ở lần trước sang âm tính/bình thường ở lần kiểm tra sau.
- Không biến đổi: Kết quả xét nghiệm giữ nguyên trạng thái (cùng âm tính hoặc cùng dương tính) qua các mốc thời gian.
Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ (cohort study) kết hợp hồi cứu và tiến cứu qua 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Hồi cứu và theo dõi từ năm 2013 đến năm 2018.
- Giai đoạn 2: Theo dõi tiến cứu từ năm 2018 đến năm 2020.
- Công thức tính cỡ mẫu: Cỡ mẫu cho nghiên cứu đoàn hệ so sánh hai tỷ lệ được tính toán theo công thức:
$$n = \frac{\left[ Z_{1-\alpha/2} \sqrt{2\bar{P}(1-\bar{P})} + Z_{1-\beta} \sqrt{P_1(1-P_1) + P_2(1-P_2)} \right]^2}{(P_1 - P_2)^2}$$
Với giả định: sai số loại I $\alpha = 0,01$; sai số loại II $\beta = 0,1$; $P_1 = 0,9$ (tỷ lệ đào thải HPV theo chiều hướng tốt theo Nguyễn Vũ Quốc Huy); $P_2 = 0,5$ (tỷ lệ nhiễm HPV biến đổi theo chiều hướng xấu theo Rebecca Siegel). Nhân hệ số hiệu lực thiết kế (design effect) bằng 2, cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu là 72 đối tượng cho mỗi nhóm.
- Mẫu nghiên cứu thực tế: Tổng cộng 213 phụ nữ được đưa vào theo dõi:
- Nhóm nhiễm: 73 phụ nữ có kết quả HPV-DNA (+) từ danh sách 99 phụ nữ nhiễm HPV trong nghiên cứu năm 2013 (chọn mẫu toàn bộ các trường hợp đủ tiêu chuẩn).
- Nhóm không nhiễm: 140 phụ nữ có kết quả HPV-DNA (-) từ nghiên cứu năm 2013, được chọn bằng phương pháp bắt cặp ngẫu nhiên theo tỷ lệ 1 nhiễm : 2 không nhiễm dựa trên sự tương đồng về nhóm tuổi và địa bàn cư trú.
Năm 2013: Quần thể phụ nữ 18-69 tuổi tại 9 quận/huyện TP. Cần Thơ (n = 1.490)
Nhóm HPV(+) (n = 73) Nhóm HPV(-) (n = 140)
Năm 2018 (Giai đoạn 1): Khám lâm sàng, phỏng vấn, xét nghiệm lần 2 (n = 213)
[HPV-DNA 2, PAP 2, VIA 2, Mô bệnh học 1 nếu VIA/PAP (+)]
Nhóm HPV(+) (n = 49) Nhóm HPV(-) (n = 164)
Năm 2020 (Giai đoạn 2): Khám lâm sàng, phỏng vấn, xét nghiệm lần 3 (n = 213)
[HPV-DNA 3, PAP 3, VIA 3, Mô bệnh học 2 nếu VIA/PAP (+)]
Phân tích biến đổi giai đoạn 2013-2020 và xác định yếu tố nguy cơ
Tiêu chuẩn chọn mẫu và loại trừ
- Tiêu chuẩn chọn vào: Phụ nữ từ 18 – 69 tuổi, cư trú $\ge 12$ tháng tại Cần Thơ, đã quan hệ tình dục, đã có kết quả xét nghiệm trong đề tài năm 2013 và tự nguyện đồng ý tham gia.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
- Trường hợp có chống chỉ định làm PAP hoặc sinh thiết cổ tử cung (thụt rửa âm đạo, đặt thuốc âm đạo, quan hệ tình dục trong vòng 24 giờ trước khám, đang hành kinh, đang viêm cấp âm đạo - cổ tử cung).
- Phụ nữ đang mang thai hoặc nghi ngờ có thai; không liên lạc được.
- Phụ nữ đã được chẩn đoán ung thư cổ tử cung hoặc đã cắt tử cung toàn phần.
- Phụ nữ mắc bệnh lý cấp hoặc mạn tính nặng đang nằm viện điều trị trong thời gian thu thập mẫu.
Quy trình thu thập và phân tích dữ liệu
- Quy trình thực địa (8 bước chuẩn hóa): Hoàn thiện thủ tục hành chính $\rightarrow$ Chọn đối tượng $\rightarrow$ Hồi cứu dữ liệu 2013 $\rightarrow$ Phỏng vấn bộ câu hỏi, khám phụ khoa $\rightarrow$ Lấy bệnh phẩm xét nghiệm (HPV-DNA, PAP, VIA, sinh thiết mô bệnh học khi VIA/PAP bất thường) $\rightarrow$ Gửi mẫu đến phòng xét nghiệm $\rightarrow$ Ghi nhận kết quả và tư vấn điều trị $\rightarrow$ Gửi mẫu kiểm chứng độc lập tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
- Kỹ thuật thống kê: Số liệu được nhập, làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0. Sử dụng kiểm định McNemar để đánh giá sự biến đổi theo thời gian; tính nguy cơ tương đối (RR), tỷ số số chênh (OR); phân tích hồi quy logistic đơn biến và đa biến (chọn biến có ý nghĩa thống kê đưa vào mô hình hiệu chỉnh) với khoảng tin cậy 95% (KTC 95%).
- Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được thông qua bởi Hội đồng Khoa học và Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và bảo mật thông tin cá nhân.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có tổng dung lượng 119 trang, bao gồm: Đặt vấn đề (2 trang), Tổng quan tài liệu (30 trang), Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (24 trang), Kết quả nghiên cứu (30 trang), Bàn luận (30 trang), Kết luận (2 trang), Kiến nghị (1 trang). Toàn văn có 45 bảng (43 bảng kết quả), 1 biểu đồ, 2 hình, 2 sơ đồ và 136 tài liệu tham khảo (27 tiếng Việt, 109 tiếng Anh).
Chương 1: Tổng quan tài liệu (30 trang)
Chương 1 hệ thống hóa các kiến thức cơ bản về virus HPV: cấu trúc hệ gen gồm các gen cấu trúc (L1, L2) và gen sinh ung (E6, E7); cơ chế xâm nhập vào lớp tế bào đáy tại vùng chuyển tiếp của biểu mô lát tầng cổ tử cung; cơ chế ức chế các protein kiểm soát khối u (p53 và pRb) dẫn đến loạn sản biểu mô. Chương này phân tích chi tiết quá trình diễn tiến từ tổn thương tiền ung thư (CIN I, CIN II, CIN III) đến ung thư xâm lấn kéo dài trung bình 10 – 20 năm. Đồng thời, tác giả tổng thuật các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm và biến đổi HPV như hành vi tình dục (quan hệ sớm < 16 tuổi, nhiều bạn tình, bạn tình có nhiều bạn tình), hút thuốc lá (tích tụ nicotin làm giảm đáp ứng miễn dịch Th1/Th2, tăng interleukin 10, giảm IFN-$\alpha$, IFN-$\gamma$), thuốc tránh thai đường uống, độ tuổi và các đột biến gen virus.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (24 trang)
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận nghiên cứu đoàn hệ 2 giai đoạn trên 213 phụ nữ tại 9 quận/huyện thành phố Cần Thơ. Tác giả trình bày tường minh công thức tính cỡ mẫu, tiêu chuẩn lựa chọn/loại trừ, quy trình phỏng vấn bằng 3 bộ câu hỏi chuẩn hóa, kỹ thuật lấy mẫu tế bào cổ tử cung, quy trình thực hiện xét nghiệm HPV-DNA, phết mỏng Papanicolaou, nghiệm pháp VIA và quy trình sinh thiết làm giải phẫu bệnh - mô bệnh học. Chương này cũng nêu rõ các biến số nghiên cứu, kỹ thuật kiểm định thống kê y sinh học và quy trình kiểm soát chất lượng mẫu thông qua đối chứng tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu (30 trang, 43 bảng)
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu định lượng thu thập được qua 3 mốc thời gian (2013, 2018, 2020), tập trung vào các nội dung chính:
1. Biến đổi HPV-DNA và phân bố các type HPV
| Chỉ số biến đổi HPV-DNA (Giai đoạn 2013 – 2020) |
Số lượng ($n$) |
Tỷ lệ (%) |
Giá trị $p$ (McNemar) |
| Chuyển từ âm tính sang dương tính (chiều hướng xấu) |
20/140 |
14,3 |
< 0,001 |
| Chuyển từ dương tính sang âm tính (chiều hướng tốt / đào thải) |
50/73 |
68,5 |
< 0,001 |
| Không biến đổi kết quả xét nghiệm |
143/213 |
67,1 |
< 0,001 |
Theo dõi theo từng giai đoạn (Bảng 3.10):
- Nhóm không nhiễm ban đầu: Tỷ lệ chuyển sang dương tính giảm dần theo thời gian (11,3% năm 2018 xuống 9,4% năm 2020); tỷ lệ duy trì âm tính tăng từ 54,5% lên 56,3%.
- Nhóm nhiễm ban đầu: Tỷ lệ đào thải (chuyển sang âm tính) tăng dần (22,5% năm 2018 lên 23,5% năm 2020); tỷ lệ duy trì dương tính giảm từ 11,7% xuống 10,8%.
Phân bố các chủng HPV nguy cơ cao: Ghi nhận sự hiện diện của 12 type nguy cơ cao (16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59).
- Năm 2013 ($n = 80$ chủng trên 73 phụ nữ): Type 52 chiếm 23,8%; type 16 chiếm 16,3%; type 51 chiếm 12,5%; type 39 chiếm 10,0%; type 18 chiếm 7,5%; type 56 chiếm 7,5%; type 35 và 58 cùng chiếm 6,3%; type 45 chiếm 3,8%; type 31 và 33 cùng chiếm 2,5%; type 59 chiếm 1,3%.
- Năm 2020 ($n = 47$ chủng trên 43 phụ nữ): Type 16 và 52 cùng chiếm tỷ lệ cao nhất (19,1%); type 18 và 58 cùng chiếm 12,8%; type 39 và 51 cùng chiếm 10,6%; type 35 và 59 cùng chiếm 4,3%; type 31, 33, 45 cùng chiếm 2,1%; type 56 giảm về 0%.
- Tỷ lệ nhiễm kéo dài đặc biệt cao ở type 16 (30,4%) và type 18 (17,4%). Đa số phụ nữ giữ nguyên type nhiễm (88,4%), có 2,3% thay đổi type và 2,3% chuyển từ đơn type sang đa type.
2. Biến đổi tế bào học (PAP), VIA và mô bệnh học (MBH)
| Phương pháp xét nghiệm |
Biến đổi xấu ($n, %$) |
Biến đổi tốt ($n, %$) |
Không biến đổi ($n, %$) |
Giá trị $p$ (McNemar) |
| PAP (2013 – 2020) |
7/211 (3,3%) |
1/2 (50,0%) |
205/213 (96,2%) |
0,07 |
| VIA (2013 – 2020) |
30/184 (16,3%) |
17/29 (58,6%) |
166/213 (77,9%) |
0,08 |
| Mô bệnh học (2018 – 2020) |
1/46 (2,2%) |
2/4 (50,0%) |
47/50 (94,0%) |
0,999 |
- Kiểu hình PAP bất thường: Chiếm ưu thế là ASC-H (57,1% năm 2018 và 50,0% năm 2020), tiếp theo là LSIL (14,3% năm 2018 và 25,0% năm 2020), ASC-US (14,3% năm 2018 và 12,5% năm 2020), HSIL (14,3% năm 2018), AGC (12,5% năm 2020). Các tổn thương tế bào học bất thường chủ yếu gặp ở nhóm phụ nữ nhiễm HPV type 16, 18 và 52.
- Kiểu hình Mô bệnh học: Năm 2018 phát hiện 3 ca CIN I (75%) và 1 ca CIN III (25%, nhiễm HPV 16). Năm 2020 ghi nhận 3 ca CIN I (100%, đều nhiễm HPV 16, 18, 52), không còn trường hợp CIN III. Không ghi nhận trường hợp ung thư cổ tử cung xâm lấn trong 7 năm theo dõi.
3. Mối liên quan giữa biến đổi HPV-DNA với biến đổi tế bào học và mô bệnh học
- HPV-DNA và PAP: Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa biến đổi HPV-DNA theo chiều hướng xấu với biến đổi PAP theo chiều hướng xấu ($p = 0,1$).
- HPV-DNA và VIA: Phụ nữ có biến đổi HPV-DNA theo chiều hướng xấu làm tăng nguy cơ biến đổi VIA bất thường gấp 4,0 lần so với nhóm không biến đổi ($RR = 4,0$; KTC 95%: 1,4 – 11,0; $p = 0,01$).
- Nhiễm HPV kéo dài và Mô bệnh học: Phụ nữ nhiễm HPV kéo dài (2013 – 2020) làm tăng nguy cơ xuất hiện biến đổi mô bệnh học bất thường gấp 18,0 lần so với nhóm không nhiễm kéo dài ($RR = 18,0$; KTC 95%: 1,6 – 207,0; $p = 0,03$).
4. Phân tích các yếu tố nguy cơ
| Yếu tố liên quan |
Phân tích đơn biến $RR$ (KTC 95%) |
$p$ đơn biến |
Phân tích đa biến $OR$ (KTC 95%) |
$p$ đa biến |
| Nhóm tuổi $\le 45$ |
11,2 (3,1 – 39,5) |
< 0,001 |
6,0 (1,2 – 30,5) |
0,03 |
| Phụ nữ có thay đổi bạn tình |
17,8 (6,3 – 50,3) |
< 0,001 |
9,2 (2,1 – 41,3) |
0,04 |
| Chồng có thay đổi bạn tình |
15,0 (5,2 – 43,1) |
< 0,001 |
12,8 (2,9 – 55,9) |
0,01 |
| Sống xa chồng |
6,1 (2,2 – 16,6) |
0,009 |
0,6 (0,07 – 5,1) |
0,65 |
| Tiền sử phá thai |
5,8 (1,6 – 21,3) |
0,02 |
6,2 (0,8 – 49,9) |
0,09 |
| Tiền sử mắc STDs |
8,8 (2,7 – 28,2) |
0,001 |
2,7 (0,26 – 28,5) |
0,41 |
| Tiền sử viêm sinh dục |
5,6 (2,0 – 15,9) |
< 0,001 |
2,6 (0,3 – 20,7) |
0,36 |
Phân tích đa biến xác định 3 yếu tố nguy cơ thực sự làm tăng biến đổi HPV-DNA theo chiều hướng xấu: tuổi $\le 45$, phụ nữ thay đổi bạn tình và chồng thay đổi bạn tình.
Ngược lại, khi phân tích mối liên quan với biến đổi tế bào học cổ tử cung (TBHCTC), các yếu tố nhóm tuổi ($p = 0,99$), tuổi quan hệ lần đầu ($p = 0,4$), phụ nữ đổi bạn tình ($p = 0,99$) và chồng đổi bạn tình ($p = 0,5$) đều không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
Chương 4: Bàn luận (30 trang)
Chương 4 tập trung đối chiếu các phát hiện của luận án với y văn:
- Giải thích hiện tượng thoái triển HPV-DNA tự nhiên (68,5% đào thải sau 7 năm), chỉ ra tỷ lệ đào thải này phù hợp với cơ chế miễn dịch nhưng có phần thấp hơn một số nghiên cứu quốc tế do mẫu nghiên cứu gồm 100% đối tượng nhiễm các type nguy cơ cao.
- Phân tích sự lưu hành đặc trưng của HPV type 52 tại địa phương, đồng thời cảnh báo xu hướng gia tăng và tỷ lệ tồn tại dai dẳng của type 16 (30,4%) và 18 (17,4%) – hai chủng có liên hệ mật thiết với các tổn thương PAP và CIN bất thường.
- Luận giải nguyên nhân biến đổi tế bào học diễn ra rất chậm trong cộng đồng (tỷ lệ PAP biến đổi xấu chỉ 3,3% và không biến đổi lên tới 96,2%), giải thích sự khác biệt giữa nghiên cứu dọc này với các nghiên cứu cắt ngang trước đó.
- Khẳng định vai trò của nhiễm HPV kéo dài đối với tổn thương mô bệnh học ($RR = 18,0$) và nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố hành vi tình dục từ cả hai phía (vợ và chồng) cùng độ tuổi $\le 45$ trong việc tái nhiễm hoặc duy trì tình trạng nhiễm HPV.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn
- Dữ liệu dịch tễ học theo dõi dọc: Cung cấp bức tranh toàn diện về quy luật biến đổi tự nhiên của HPV-DNA, PAP, VIA và mô bệnh học trong 7 năm tại cộng đồng phụ nữ Cần Thơ:
- Tỷ lệ biến đổi HPV-DNA: Chiều hướng tốt là 68,5%, chiều hướng xấu là 14,3%, không biến đổi là 67,1%.
- Tỷ lệ biến đổi PAP: Chiều hướng tốt là 50,0%, chiều hướng xấu là 3,3%, không biến đổi là 96,2%.
- Tỷ lệ biến đổi VIA: Chiều hướng tốt là 58,6%, chiều hướng xấu là 16,3%, không biến đổi là 77,9%.
- Tỷ lệ biến đổi mô bệnh học: Chiều hướng tốt là 50,0%, chiều hướng xấu là 2,2%, không biến đổi là 94,0%.
- Xác định đặc điểm phân bố type HPV: Làm rõ sự phổ biến của type 52 (19,1%) và type 16 (19,1%), type 18 (12,8%) tại Cần Thơ; chỉ ra nguy cơ nhiễm dai dẳng cao nhất thuộc về type 16 (30,4%) và 18 (17,4%).
- Làm rõ các mối liên quan nguy cơ bệnh học:
- Biến đổi HPV-DNA theo chiều hướng xấu làm tăng nguy cơ biến đổi VIA gấp 4,0 lần ($RR = 4,0$; KTC 95%: 1,4 – 11,0).
- Nhiễm HPV kéo dài làm tăng nguy cơ biến đổi mô bệnh học cổ tử cung bất thường gấp 18,0 lần ($RR = 18,0$; KTC 95%: 1,6 – 207,0).
- Xác định các yếu tố nguy cơ độc lập: Mô hình hồi quy đa biến đã chứng minh 3 yếu tố nguy cơ cốt lõi làm tăng biến đổi HPV-DNA theo hướng xấu:
- Nhóm tuổi $\le 45$ (nguy cơ tăng gấp 6,0 lần; KTC 95%: 1,2 – 30,5).
- Phụ nữ có thay đổi bạn tình (nguy cơ tăng gấp 9,2 lần; KTC 95%: 2,1 – 41,3).
- Chồng có thay đổi bạn tình (nguy cơ tăng gấp 12,8 lần; KTC 95%: 2,9 – 55,9).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Truyền thông giáo dục sức khỏe: Tăng cường công tác truyền thông dân số, giáo dục sức khỏe sinh sản, thực hành tình dục an toàn và lối sống lành mạnh nhằm hạn chế lây truyền HPV trong cộng đồng, đặc biệt lưu ý kiểm soát các chủng nguy cơ cao như HPV 16 và 18.
- Can thiệp chuyên môn: Ngành y tế địa phương cần triển khai khám phụ khoa định kỳ hàng năm cho phụ nữ; bổ sung xét nghiệm HPV vào chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung thường quy, ưu tiên nhóm phụ nữ $\le 45$ tuổi để phát hiện và can thiệp sớm.
- Nghiên cứu mở rộng: Tiếp tục triển khai các nghiên cứu theo dõi dọc với cỡ mẫu lớn hơn để làm sáng tỏ các yếu tố tác động đến biến đổi tế bào học cổ tử cung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Số lượng các trường hợp có tổn thương tế bào học bất thường (PAP) và tổn thương mô bệnh học (CIN) phát hiện được tại cộng đồng còn nhỏ, dẫn đến khoảng tin cậy của một số chỉ số nguy cơ (như mối liên quan giữa nhiễm HPV kéo dài và mô bệnh học) còn rộng ($RR = 18,0$; KTC 95%: 1,6 – 207,0).
- Nghiên cứu chưa phát hiện được yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê đối với sự biến đổi tế bào học cổ tử cung theo chiều hướng xấu ($p > 0,05$) do tỷ lệ biến đổi bất thường của tế bào học tại cộng đồng diễn ra rất chậm và chiếm tỷ lệ thấp.
- Trong suốt 7 năm theo dõi chưa ghi nhận trường hợp nào tiến triển thành ung thư cổ tử cung xâm lấn, do đó chưa đánh giá được toàn bộ chu trình từ nhiễm virus đến giai đoạn ung thư muộn trên thực tế theo dõi.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu trên các quần thể lớn hơn và kéo dài thời gian theo dõi trên 10 năm nhằm thu thập đủ số lượng biến cố tổn thương biểu mô mức độ cao.
- Nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố tương tác miễn dịch học, đột biến gen virus và các đồng yếu tố sinh học khác tác động trực tiếp đến quá trình biến đổi tế bào học cổ tử cung ở phụ nữ đã nhiễm HPV.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Cán bộ y tế công cộng và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học thực chứng để xây dựng các hướng dẫn sàng lọc ung thư cổ tử cung dựa trên xét nghiệm HPV-DNA kết hợp tế bào học tại tuyến cơ sở; đưa ra định hướng can thiệp hành vi tình dục an toàn trong y tế dự phòng.
- Bác sĩ lâm sàng Sản Phụ khoa và Giải phẫu bệnh: Cung cấp dữ liệu theo dõi dọc về mối tương quan giữa tình trạng nhiễm HPV kéo dài với các tổn thương tiền ung thư (CIN I, CIN III), giúp nâng cao giá trị tiên lượng và theo dõi sát bệnh nhân có kết quả xét nghiệm dương tính với HPV 16 và 18.
- Giảng viên, học viên và nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận thiết kế nghiên cứu đoàn hệ (cohort), phương pháp tính cỡ mẫu bắt cặp, quy trình lấy mẫu và phân tích số liệu dịch tễ học bằng mô hình hồi quy đa biến trong y học.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ đào thải tự nhiên của HPV-DNA ở phụ nữ Cần Thơ trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Trong giai đoạn 2013 – 2020, tỷ lệ biến đổi HPV-DNA theo chiều hướng tốt (chuyển từ dương tính sang âm tính, hay tự đào thải virus) đạt 68,5% (50/73 phụ nữ). Tỷ lệ đào thải tăng dần theo thời gian theo dõi, tuy nhiên có phần thấp hơn một số y văn quốc tế do toàn bộ mẫu nghiên cứu ban đầu đều nhiễm các type HPV thuộc nhóm nguy cơ cao.
2. Những type HPV nào lưu hành phổ biến nhất tại Cần Thơ giai đoạn 2013 – 2020?
Nghiên cứu phát hiện 12 type HPV nguy cơ cao. Trong đó, các type chiếm tỷ lệ cao nhất là type 52 và type 16 (cùng chiếm 19,1% vào năm 2020), tiếp theo là type 18 và type 58 (cùng chiếm 12,8%). Đáng lưu ý, tỷ lệ nhiễm kéo dài cao nhất ở type 16 (30,4%) và type 18 (17,4%), và các tổn thương PAP/mô bệnh học bất thường đều tập trung ở nhóm nhiễm các type này.
3. Tình trạng nhiễm HPV kéo dài làm gia tăng nguy cơ biến đổi mô bệnh học như thế nào?
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ bị nhiễm HPV kéo dài trong suốt giai đoạn 2013 – 2020 có nguy cơ bị biến đổi mô bệnh học cổ tử cung theo chiều hướng xấu cao gấp 18,0 lần so với phụ nữ không bị nhiễm HPV kéo dài ($RR = 18,0$; KTC 95%: 1,6 – 207,0; $p = 0,03$).
4. Những yếu tố nào là nguy cơ độc lập làm biến đổi HPV-DNA theo chiều hướng xấu?
Qua phân tích hồi quy logistic đa biến, luận án xác định 3 yếu tố nguy cơ độc lập:
- Nhóm tuổi $\le 45$: Tăng nguy cơ gấp 6,0 lần ($OR = 6,0$; KTC 95%: 1,2 – 30,5; $p = 0,03$).
- Phụ nữ có thay đổi bạn tình: Tăng nguy cơ gấp 9,2 lần ($OR = 9,2$; KTC 95%: 2,1 – 41,3; $p = 0,04$).
- Chồng có thay đổi bạn tình: Tăng nguy cơ gấp 12,8 lần ($OR = 12,8$; KTC 95%: 2,9 – 55,9; $p = 0,01$).
5. Tác giả đưa ra những đề xuất thực tiễn nào cho hệ thống y tế địa phương?
Tác giả kiến nghị ngành y tế Cần Thơ đẩy mạnh giáo dục sức khỏe tình dục an toàn cho cộng đồng, tổ chức khám phụ khoa định kỳ hàng năm và chính thức đưa xét nghiệm HPV vào quy trình sàng lọc ung thư cổ tử cung định kỳ, đặc biệt chú trọng nhóm phụ nữ $\le 45$ tuổi để phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Dương Mỹ Linh đã thực hiện thành công thiết kế nghiên cứu đoàn hệ theo dõi dọc 7 năm (2013 – 2020) trên 213 phụ nữ tại thành phố Cần Thơ. Nghiên cứu đã xác định tỷ lệ tự đào thải HPV-DNA là 68,5%, tỷ lệ chuyển biến xấu HPV-DNA là 14,3%, đồng thời làm rõ sự lưu hành chiếm ưu thế của các type nguy cơ cao gồm HPV 52, 16 và 18. Luận án đã chứng minh nhiễm HPV kéo dài làm tăng nguy cơ biến đổi mô bệnh học cổ tử cung gấp 18 lần và xác định 3 yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng biến đổi HPV-DNA xấu là lứa tuổi $\le 45$, phụ nữ thay đổi bạn tình và chồng thay đổi bạn tình. Các kết quả này cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho việc định hình chiến lược truyền thông sức khỏe sinh sản và bổ sung xét nghiệm HPV vào chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung tại tuyến y tế cơ sở.