Chương 1 TÔNG QUAN 1. Giới thiệu về cự đà Nam Mỹ - Cự đà Cự đà có danh pháp khoa học Jguana, là động vật có phân loại khoa học như sau (Martha va Mervin,1976): Giới (Kingdom): Animalia Ngành (Phylum): Chordata Lớp (Class): Retilia Bộ (Order): Squamata Ho (Family): Iguanidae Chi (Genus): Iguana Trong đó, lớp bò sát có khoảng 7.500 loài bao gồm bốn bộ: bộ rùa, bộ cá sấu, bộ có vảy bộ than lan đầu mỏ (Võ Đình Sơn, 2020). Cự đà Nam Mỹ nằm trong bộ có vảy, có 30 loài thuộc phân họ Iguanidae, cự đà Nam Mỹ là loài phô biến nhất (Phillips, 1990). Năm 1960 ở Florida — Mỹ đã ghi nhận sự xuất hiện của loài này, sau đó lan ra từ bắc Trung Mỹ đến trung Nam Mỹ (De Jesús Villanueva và ctv, 2021).
Cự đà được báo cáo sự tổn tại trên một số hòn đảo ở Thái Bình Duong, bao gồm Hawaii, Nhật Bản va Fiji vào năm 2013 (Falco’n và ctv, 2013); gần đây nhất là 2016 tại Đài Loan (De Jesús Villanueva và ctv, 2021). Cự đà Nam Mỹ là loài ăn thực vật, có kích thước từ trung bình đến lớn. Con non tăng trưởng cao nhất trong 3 tháng đầu sau khi nở và có bằng chứng cho rằng con non có kích thước to lớn sẽ là lợi thế thê trạng khi chúng trưởng thành (Phillips, 1990), có mào ức và đỉnh lưng phát triển (Hình 1.1), đuôi dài gấp ba lần chiều dài từ miệng đến lỗ huyệt. Chiều dài này cũng là thước đo kích cỡ của con vật theo ba mức độ.
Con non sẽ có chiều dải khoảng 100 mm, con trung bình khoảng 200 mm và con trưởng thành từ trên 300 mm (Troyer, 1984). Đuôi có thé tự cắt cụt và mọc lại nhưng đuôi mọc lại là sụn nên hình thái sẽ khác ban đầu. Cự đà là động vật biến nhiệt, phụ thuộc môi trường sống như nhiệt độ, âm độ, sự bốc hơi nước để điều hoà thân nhiệt, do đó không thé sinh sống ở nơi lạnh nhất của trái đất như Nam Cực. Nhiệt độ xung quanh phù hợp cần thiết cho sự tiêu hoá, bai tiết chất cặn bã, sinh sản và tao kháng thé.
Khi nhiệt độ môi trường sống quá cao (> 32°C) thì sẽ biếng ăn và chậm tăng trưởng, ngược lại nếu nhiệt độ thấp thì thức ăn sẽ bị phân huỷ mà không tiêu hoá được vì không có đủ enzyme tiêu hoá. Khoảng nhiệt độ giúp cự đà tiêu hoá thức ăn, đề kháng bệnh và điều hoà các hoạt động của cơ thê được gọi là biên độ nhiệt độ thuận lợi từ 24°C đến 32°C. Con đực có màu sắc rực rỡ hơn con cái. Mùa sinh sản thường là đầu mùa mưa.
Tuôi thọ từ 10 đến 20 năm, nhưng theo ghi nhận của Bellairs (1998) có con Hình 1. Cự đà Nam Mỹ 1. Giải phẫu học va đặc điểm sinh lý 1. Sơ lược về cau trúc cơ thé Cự đà Nam Mỹ là sinh vật không có cơ hoành, do đó chỉ có một xoang cơ thê (Võ Đình Sơn, 2020) (Hình 1.
Hệ hô hap: cự đà Nam Mỹ có hai lỗ mũi ở xương hàm trên gần mõm, có tuyến bài tiết muối du thừa trong cơ thé dé giữ nước, các tinh thé muối mau trắng thường lắng đọng ở mũi và con vật thường hắt hơi dé đây muối đi (Võ Dinh Son, 2020). Phéi của cự đà gồm những phé nang đơn giản và hô hấp thực hiện nhờ sự co thắt của các cơ liên sườn. Hệ tuần hoàn: tim có 3 ngăn, hai tâm nhĩ và một tâm thất (Longley, 2008). Máu không có oxy theo động mạch phổi dé trao đôi chất, còn máu có oxy sẽ theo động mạch chủ đến các cơ quan.
Hệ tiêu hoá: thực quản ngắn và mỏng. Dạ dày đơn giản và thuôn dài. Ruột non ngắn hơn động vật có vú và kết thúc ở chỗ nối kết tràng. Ruột già được phân hóa dé hỗ trợ quá trình lên men thức ăn.
Gan ở loài cự đà có màu nâu sam, sắc tố này không phải bất thường mà phản ánh sự có mặt của melanin. Túi mật được gắn vào thùy phải của gan (Hanley, 2003). Hệ sinh sản: phân biệt đực và cái nhờ vào hai dương vật của con đực nằm ở hai bên gốc đuôi, tuy nhiên vẫn có trường hợp nhằm lẫn với tuyến xạ ở lỗ huyệt. Lúc bình thường hai dương vật nằm trong đuôi.
Chúng được giữ có định bởi một cơ co rút, chỉ có một gai dương vật (hemipenis) được lộn ngược ra ngoài và đưa vào lỗ huyệt con cái. Con cái có 2 buồng trứng và 2 ống dẫn trứng. Cự đà là loài đẻ trứng, nhiệt độ ấp trứng từ 30°C đến 32°C. Sự thay đổi nhiệt độ là một trong những yếu tố quyết định giới tính con non (Scheelings, 2019).
Hệ thống tĩnh mạch cửa thận: chỉ có ở loài bò sát, có chức năng giữ nước (Võ Đình Sơn, 2020). Trong thời gian thiếu nước, bò sát tiết kiệm nước bằng cách giảm độ lọc cầu thận. Khi lưu lượng máu qua cầu thận giảm, các tế bào ống thận có nguy cơ bị hoại tử do thiếu máu cục bộ. Nguy cơ này được giảm thiểu khi có máu từ hệ thống tĩnh mạch cửa thận chuyền qua thận thông qua một loạt các van, duy trì tưới máu đến các tế bào ống thận (Scheelings, 2019).
Tĩnh mạch thận đi vào giữa thận, máu ở chân sau đi vòng qua thận và máu từ tĩnh mạch đuôi cùng đi vào hệ tuần hoàn tĩnh mạch thận, trước khi vảo tĩnh mạch chủ sau về tâm nhĩ trái. Máu ở tĩnh mạch cửa thận sẽ đi qua các tiêu quản vì thế sẽ làm tăng sự bai tiết thuốc ở thận. Hệ tiết niệu - bài tiết: sự biến dưỡng ở tế bào tạo ra năng lượng và các chất cặn bã. Các chất này được thải ra khỏi cơ thé qua các cơ quan bài tiết như tuyến mồ hôi, gan, thận.
Nước tiểu ở cự đà Nam Mỹ được bài tiết dưới dang acid uric. Thận có hình hạt đậu, phân làm nhiều thuỳ, ở gần tuyến sinh dục, gan vào thành lưng ở vi trí xương chậu. Ống dẫn tiêu từ thận đi vào huyệt niệu sinh dục ở lỗ huyệt. Bàng quang không nối trực tiếp vào ông dẫn tiểu từ thận mà bàng quang lại nỗi với lỗ huyệt nên nước tiêu đi vào lỗ huyệt trước rồi mới vào bang quang và lưu trữ ở đó trước khi thoát ra ngoài (Võ Đình Sơn, 2020) (Hình 1.
Những thay đổi khác nhau về nồng độ nước tiểu và thành phan chất điện giải có thể xảy ra trong lòng bàng quang do đó nước tiểu bàng quang không được coi là vô trùng cũng như không phải là chỉ tiêu phản ánh chính xác tình trạng của thận. Lỗ huyệt: lỗ huyệt gồm ba ngăn: ở trên cùng là phần ruột thắng chứa phân; phần giữa là huyệt niệu sinh dục chứa các chất tiết từ đường sinh dục và nước tiểu từ ống dẫn tiêu; ngăn cuối cùng là nơi chứa phân và nước tiểu khi bài tiết ra ngoài. Niêm mac lỗ huyệt thường 4m và có thé được kiểm tra để giúp xác định tình trạng mat nước của cự đà (Nevarez, 2009).cận giáp: 2) Khí quản; 3) Tuyến giáp; 4) Tâm thất; 5) Tâm nhĩ phải; 6) Phối; 7) Gan; 8) Túi mật; 9) Tuyến thượng thận; 10) Tinh hoàn; 11) Ống dẫn tinh; 12) Khối mỡ đệm; 13) Gai sinh dục; 14) Bàng quang; 15) Thận; 16) Kết tràng; 17) Lách; 18) Ruột non; 19) Tuy; 20) Dạ dày tỉnh hoàn tĩnh mạch j than phai ống dẫn tinh thận niệu quản lỗ huyệt đôi dương vật Hình 1. Hệ thống niệu sinh dục của con đực (Nguồn: Aspinall, 2019) 1.
Một số đặc điểm sinh lý Chỉ số sinh tồn Huyết áp trung bình dao động từ 50 — 74mmHg (Hernandez, 2011) SpO2 >90%, + 4% Nhịp thở: 16 + 6 nhip/phut (Divers, 2005) Thân nhiệt: 24°C — 32°C Các chỉ số này được theo dõi bởi các dây kết nối gắn ở vị trí lưỡi, ngực, đuôi và lỗ huyệt của con vật với man hình của máy uMEC 12 Vet, thương hiệu Mindray như Hình 1.4 Các chỉ tiêu sinh lý và sinh hoá máu Mẫu máu cự đà có thê lấy được tại năm vị trí khác nhau tuỳ thuộc vào kinh nghiệm của người lấy mẫu (Stacy, 2019 và Longley, 2008). e Tinh mạch đuôi: có thể lấy ở mặt bụng hay mặt bên của đuôi. Tĩnh mạch nảy nằm đọc theo đường giữa ở mặt bụng của đốt sống đuôi. Khi thân nhiệt giảm hoặc mất máu sẽ khó lay máu ở vi trí này do co mach ngoại biên.
e Tĩnh mạch cé ở mặt sau của cô gần xương hàm đến xương vai. Ở loài này rất khó thấy tĩnh mạch này. e_ Tĩnh mạch xoang cơ thé, nằm ở đường giữa của bụng và phân nhánh ở rôn, vì thế phải lay máu ở phan trên rén. e Đám rối thần kinh cánh tay e Tim Các chỉ tiêu sinh hoá máu gồm protein, albumin, creatinine, ure, uric acid, glucose, ALP, AST, ALT, canxi, photpho sẽ được so sánh với giới hạn trong Bảng 1.1 thé hiện giá tri trung bình sinh hoá máu của cự da.
Bảng tham chiếu giá trị bình thường sinh hoá máu của Cự đà (Stacy và ctv, 2019; Redrobe, 1999) Chỉ tiêu Đơn vị Khoảng tham chiếu Con đực Con cái ALT IU/L 4-76 5—96 AST IU/L 19-65 7—102 ALP IU/L 14-65 22-90 Ure mmol/L 0,29 — 0,38 0,33 — 0,44 Cratinine umol/L 26 — 62 Acid uric umol/L 89-345 54 — 399 Protein g/L 44 - 65 49 - 76 Glucose mmol/L 3,9 — 13,5 5,8 — 14,3 Albumin g/L 13 - 30 15 —30 Ca mmol/L 2,15 —3,52 2,69 — 3,49 P mmol/L 1,03 — 2,45 0,9 - 3 1. Một số bệnh lý thường gặp 1. Áp xe Áp xe thường bị do vết cắn, vết xước gây ra bởi những con nhốt chung hoặc thú cưng trong nhà; xuất hiện thứ phát do điều kiện nuôi nhốt không hợp lý về nhiệt độ và âm độ, làm anh hưởng lưu lượng máu đến các chi gây ra hoại tử hoặc áp xe (Stahl, 2003). Cục viêm áp xe được nhìn thấy nhiều ở vị trí dọc xương hàm dưới và hàm trên, hoặc ở trước ngực.
10 Triệu chứng: thông thường, những cục viêm áp xe này là kết quả của việc cô gang thoát ra khỏi lồng. Sự gia tăng hành vi này thường thấy khi thay đôi nội tiết tố theo mùa; cả con đực và con cái trở nên năng động hơn, có lẽ là đang tìm kiếm bạn đời (Stahl, 2003). Điều trị: phẫu thuật loại bỏ áp xe, sát trùng vết thương, hậu phẫu bằng kháng viêm, kháng sinh tại chô và toàn thân. Cường giáp do dinh dưỡng Thường gặp ở con non và con cái mang thai do nhu cầu cao về canxi.
Bệnh xảy ra khi chế độ ăn ít canxi và nhiều photpho kèm theo ít Vitamin D3 hoặc thiếu ánh sáng mặt trời có tia cực tím (UVB 290 — 320 nm) (Stahl, 2003).