Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học 1. Cơ sở khoa học nghiên cứu về sinh trưởng Sinh trưởng của cây rừng và lâm phần là trọng tâm nghiên cứu của sản lượng rừng và là vấn đề có tính chất nền tảng để nghiên cứu các phương pháp dự đoán sản lượng cũng như xác định hệ thống biện pháp tác động nhằm nâng cao năng xuất của rừng. Những nơi trồng rừng khác nhau có cấp đất khác nhau do đó khả năng sinh trưởng và phát triển của cây rừng ở đó cũng khác nhau.
Vì vậy, chúng ta phải nghiên cứu mối quan hệ giữa loài cây và cấp đất để rừng trồng không những luôn luôn sinh trưởng phát triển tốt, đạt năng suất cao mà còn có chất lượng tốt thì chúng ta phải nghiên cứu điều kiện lập địa trước khi trồng. Đất là nhân tố quyết định sự phân bố sinh trưởng, phát triển, cấu trúc sản lượng và tính ổn định của rừng. Đá mẹ là cơ sở vật chất đầu tiên cấu tạo nên đất có ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm lý học và hoá học của đất thông qua đó nó ảnh hưởng tới phân bố, sinh trưởng phát triển của cây rừng và sản lượng rừng. Cây bụi thảm tươi tham gia vào quá trình hình thành nên tiểu khí hậu của rừng, làm phong phú thành phần động vật, vi sinh vật rừng.
Về mặt kinh tế nhất là ở vùng nhiệt đới là các lâm sản có giá trị ví dụ là các loài cây dược liệu. Bên cạnh đó thực vật thảm tươi cũng ảnh hưởng không tốt đến cây rừng. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến tái sinh rừng, lửa rừng vì vậy ta phải xử lý thực bì trước khi trồng, cạnh tranh nước, ánh sáng, chất dinh dưỡng đối với cây rừng nhất là đối với cây mới trồng. Vì vậy, biện pháp chăm sóc ở rừng trồng chưa khép tán nên tập trung vào điều chỉnh mối quan hệ giữa rừng mới trồng với cây bụi thảm tươi.
cây bụi thảm tươi rất mẫn cảm với độ chua của đất và có m 5 tác dụng chỉ thị tốt cho điều kiện môi trường đánh giá khả năng chỉ thị phải căn cứ vào loài cây, tình hình sinh trưởng phát triển (số lượng và chất lượng), tính phổ biến của chúng và phải giữ được bộ mặt nguyên sinh chưa có tác động của con người (Ngô Quang Đê và Cs (1992)). Cơ sở khoa học nghiên cứu về hiệu quả kinh tế 1. Các quan điểm về hiệu quả kinh tế * Quan điểm 1: Hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong các hoạt động kinh tế. Ví dụ: Năng suất cây trồng, trọng lượng xuất chuồng và gia súc…Đây là quan điểm đã ra đời từ lâu, quan điểm này đánh giá đồng nhất giữa kết quả và hiệu quả mà không tính toán đến chi phí sản xuất.
* Quan điểm 2: Quan điểm hiệu quả kinh tế xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm xã hội (GNP, GDP). Tuy nhiên trong thực tế cũng có trường hợp GDP, GNP tăng nhưng nhịp độ tăng chi phí cũng cao. * Quan điểm 3: Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng một loại sản phẩm hàng hoá mà không cắt giảm một lượng sản phẩm hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả phải nằm trong giới hạn khả năng của nó.
Quan điểm này được coi hiệu quả kinh tế là mức độ thoả mãn quy luật kinh tế cơ bản đảm bảo nhu cầu con người. Đối với nước ta hiệu quả không phải mục tiêu mà là phương tiện nâng cao mức sống của nhân dân, phải xác định bằng cách lượng hoá, bằng các phương pháp đo lường trong kinh tế chứ không phải chỉ quan tâm đến vai trò và tác dụng của nó. * Quan điểm 4: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất mà hữu ích của sản phẩm được tạo ra chỉ phản ánh được một mặt nào đó của sản phẩm tạo ra. Quan điểm này chưa toàn diện.
m 6 * Quan điểm 5: Một nền kinh tế được gọi là có hiệu quả là nền kinh tế nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó mà giới hạn khả năng sản xuất được đặc trưng bởi chỉ tiêu sản phẩm quốc dân tiềm năng, có nghĩa là tổng sản phẩm cao nhất có thể đạt được ở mức nào đó tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. * Quan điểm 6: Hiệu quả là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ nhất định, nó góp phần làm tăng lợi nhuận xã hội của nền kinh tế quốc dân. Quan điểm này gắn liền chi phí với hiệu quả thu được, coi kết quả là nội dung phản ánh trình độ sản xuất. Bản chất của hiệu quả là sự vận hành của quy luật tiết kiệm thời gian [Trần Công Quân (2010)].
Khái niệm về hiệu quả kinh tế Được sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật, công nghệ được sử dụng trong sản xuất Nông nghiệp nói riêng và trong sản xuất nói chung. Hiệu quả phân phối: Là giá trị sản phẩm tăng thêm trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối, điều đó có nghĩa là hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất… Như vậy hiệu quả kinh tế là mục tiêu xuyên suốt các hoạt động kinh tế. Nó không phải là mục tiêu duy nhất mà trong nền kinh tế xã hội người ta còn quan tâm đến cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường [Trần Công Quân (2010)].
* Hiệu quả kinh tế Là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có vai trò quyết định đến tất cả các loại hiệu quả khác. Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hoá bằng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế. m 7 Trong việc sử dụng đất trước hết phải sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm càng nhiều hàng hoá với giá thành hạ, chất lượng của sản phẩm và năng suất lao động cao, tích luỹ tái sản xuất mở rộng không ngừng [Trần Công Quân (2010)]. * Hiệu quả xã hội Có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và nó thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người.
Nó phản ánh trên các khía cạnh như các vấn đề việc làm, thất nghiệp, tỷ lệ nghèo đói, trình độ dân trí… Đời sống của nông thôn không ngừng được nâng cao, thực hiện dân chủ công bằng văn minh xã hội, xoá dần các tai, tệ nạn xã hội, phát huy được những truyền thống tốt đẹp của cộng đồng. Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội có liên quan chặt chẽ với nhau hỗ trợ cho nhau và không thể thay thế cho nhau. Không thể coi nhẹ một vấn đề nào, tuy nhiên từng vùng cụ thể, từng thời gian cụ thể mà xem xét giải quyết từng mặt hiệu quả có khác nhau [Đoàn Hoài Nam (2004)]. Tình hình nghiên cứu về sinh trưởng của cây rừng trong và ngoài nước 1.
Tình hình nghiên cứu sinh trưởng cây rừng trên thế giới Nghiên cứu sinh trưởng và tăng trưởng của cây rừng hay lâm phần trước kia người ta tìm những nhân tố có tính chất nguyên nhân tác động rõ rệt đến quá trình sinh trưởng và tăng trưởng của cây rừng như khí hậu, đất, nước, không khí…. Về lĩnh vực này phải kể đến các tác giả: Ottelt, Pauslen, Baur, Borggeve, Breymann, Cotta, Đraut, Hartig, Weise…. Những năm đầu thế kỉ 20 đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc và sản lượng rừng. Những vấn đề trước đây thuộc phạm trù nghiên cứu định tính mô tả thành khoa học định lượng chính xác.
Những nghiên cứu về sinh trưởng của cây rừng và lâm phần rừng được xác định thành các hàm chặt chẽ và được công bố trong các công trình của m 8 D.Dstevenson (1943), Alder (1980), Meyer và Stevenson (1994), Clutier, Allison, Coile… trong lịch sử ra đời và phát triển của sản lượng rừng đã xuất hiện hàm sinh trưởng. Hàm sinh trưởng là mô hình sản lượng đơn giản nhất sử dụng để mô tả quá trình phát triển của cây cũng như lâm phần. Dựa vào hàm sinh trưởng có thể biết được giá trị nào lớn nhất của đại lượng sinh trưởng ở tuổi cuối cùng và có thể tính trước được tốc độ sinh trưởng cực đại. Đã từ lâu hàm sinh trưởng được ứng dụng trong lâm nghiệp đặc biệt là lĩnh vực sinh trưởng và sản lượng.
Cho đến nay số lượng hàm sinh trưởng được các tác giả đưa ra rất phong phú. Dưới đây, tôi xin đưa ra một số hàm sinh trưởng như: Bảng 1.1 Thống kê các hàm sinh trưởng cây rừng Tác giả Năm Dạng hàm bài toán Gompertz 1825 Y = m (1- exp) (-c1.exp (-b/Ak) Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) đã chỉ dẫn về việc trồng Bạch đàn ở Brazin như: Trước những năm 1980, Bạch đàn được trồng rộng rãi bằng nguồn hạt thu hái tại chỗ của các loài E. alba, năng suất đạt từ 13 - 35 m3/ha/năm, sinh trưởng và năng suất rừng trồng dao động trong phạm vi rất lớn. Sau năm 1980, các chương trình cải thiện giống ở Brazin đã chọn lọc và phát huy ưu thế lai của các tổ hợp lai giữa các loài và tạo ra những giống Bạch đàn lai sinh trưởng nhanh và năng suất rất cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh cao như giống lai giữa E.các dòng chọn lọc của Bạch đàn E.
deglupta đã đưa vào trồng rừng công nghiệp. Với những dòng Bạch đàn này được các công ty m 9 trồng rừng ở Brazin như Acarus, Jarsel seluloza trồng và khai thác đạt năng suất 45 - 75 13 - 35 m3/ha/năm. Christian Cossalter and Charlie Pye - Smith (2003) kết luận rằng: Brazin là một trong những nước đứng đầu thế giới về diện tích trồng Bạch đàn, trong đó 2 triệu ha rừng công nghiệp để sản xuất than chì. Nhờ có các biện pháp quản lý phù hợp mà trồng rừng Bạch đàn đã duy trì và phát triển ổn định.
Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001 đã dẫn: Từ những năm 1980, ở Nam Phi đã thực hiện trồng rừng Bạch đàn để cung cấp gỗ cho ngành công nghiệp giấy bằng cây hom của các dòng Bạch đàn được tuyển chọn. Rừng trồng bằng các dòng vô tính sinh trưởng đồng đều hơn so với cây hạt, cây trồng từ hạt có hệ số biến động về chiều cao là 11,5 % về D1.3 là 14,4 % về thể tích là 31,3 % trong khi đó cây trồng từ hom có hệ số biến động về chiều cao là < 10,0 % về D1.