Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Du lịch (mã số: 9810101) với đề tài "Nghiên cứu sinh kế và giảm nghèo của du lịch đối với hộ dân tộc thiểu số tỉnh An Giang" được tác giả Lê Thị Tố Quyên thực hiện tại Trường Du lịch - Đại học Huế, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Trần Hữu Tuấn, hoàn thành năm 2023.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Du lịch được xác định là ngành kinh tế có khả năng lan tỏa, tạo nguồn thu ngoại tệ và đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tại các quốc gia đang phát triển (Muganda và cộng sự, 2010; Scheyvens và Russell, 2012; Ap và Crompton, 1988). Báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2022) ghi nhận ngành du lịch đóng góp 1,9 tỷ USD vào năm 2021 và là nguồn thu xuất khẩu hàng đầu hoặc thứ hai tại 20 trên 48 quốc gia kém phát triển nhất. Giảm nghèo thông qua du lịch gắn liền với việc thực hiện Mục tiêu Phát triển Bền vững số 1 (SDG 1) của Liên Hợp Quốc (United Nations, 2015; World Bank, 2020). Tại Việt Nam, du lịch đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo (Le Thanh Tung & Lê Kien Cuong, 2020).

Tỉnh An Giang thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu tiềm năng du lịch tâm linh (Miếu Bà Chúa Xứ) và tài nguyên du lịch văn hóa gắn với bốn cộng đồng dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, Khmer. Tỉnh đã triển khai nhiều chương trình lồng ghép giảm nghèo với phát triển du lịch làng nghề (dệt thổ cẩm, làm đường thốt nốt, đan lát) và du lịch cộng đồng tại các địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số như Châu Giang, Châu Phong, Đa Phước, Văn Giáo, Vĩnh Trung và An Hảo. Tuy nhiên, khi các dự án kết thúc, hoạt động du lịch cộng đồng tại một số điểm có xu hướng suy giảm, thiếu tính bền vững.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: Các công trình nghiên cứu về sinh kế và giảm nghèo của hộ dân tộc thiểu số tại Việt Nam phần lớn tiếp cận dưới góc độ chính sách nông - lâm nghiệp hoặc tín dụng đơn thuần, thiếu vắng các công trình ứng dụng khung sinh kế bền vững (SLA) để đánh giá tác động tổng thể của du lịch. Đồng thời, tại địa bàn tỉnh An Giang chưa có nghiên cứu toàn diện nào so sánh sự khác biệt về vốn sinh kế và hiệu quả giảm nghèo giữa ba nhóm hộ dân tộc thiểu số Chăm, Hoa và Khmer.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Cung cấp luận cứ khoa học và đề xuất khuyến nghị chính sách nhằm giúp nâng cao sinh kế và giảm nghèo dựa vào du lịch cho các hộ dân tộc thiểu số tỉnh An Giang.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. (i) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế và giảm nghèo của du lịch đối với hộ dân tộc thiểu số.
    2. (ii) Đánh giá hiện trạng sinh kế và hiện trạng giảm nghèo của hộ dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch tại An Giang.
    3. (iii) Phân tích các nguồn vốn sinh kế ảnh hưởng đến kết quả giảm nghèo của du lịch đối với các hộ dân tộc thiểu số tỉnh An Giang.
    4. (iv) Đề xuất các khuyến nghị chính sách nâng cao sinh kế và kết quả giảm nghèo của du lịch đối với các hộ dân tộc thiểu số tỉnh An Giang.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về sinh kế và giảm nghèo của du lịch.
  • Đối tượng khảo sát: Các hộ dân tộc thiểu số Chăm, Hoa, Khmer thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo có tham gia các hoạt động du lịch.
  • Phạm vi nội dung: Đánh giá kết quả sinh kế và giảm nghèo đa chiều của hộ dân tộc thiểu số từ hoạt động du lịch, từ đó đề xuất giải pháp chính sách.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại 5 địa bàn trọng điểm của tỉnh An Giang gồm: huyện Tịnh Biên, huyện Tri Tôn, huyện An Phú, thị xã Tân Châu và thành phố Châu Đốc.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu sơ cấp thu thập từ tháng 02/2021 đến tháng 02/2022. Dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 5 năm từ 2017 đến 2022. Thời gian thực hiện toàn bộ luận án từ tháng 11/2019 đến tháng 07/2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án tiến hành tổng thuật các nghiên cứu quốc tế và trong nước xoay quanh mối quan hệ giữa du lịch, sinh kế và giảm nghèo:

  • Hướng nghiên cứu về vai trò của du lịch đối với giảm nghèo và phát triển cộng đồng: Các nghiên cứu của Muganda và cộng sự (2010), Scheyvens & Russell (2012), Adiyia và cộng sự (2017), Wiranatha và cộng sự (2017), Worku (2017), Deanbraber (2018), Hoang và cộng sự (2020), Kwai và cộng sự (2020) đều khẳng định du lịch tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống và thúc đẩy phát triển bền vững cho cộng đồng địa phương. Wang và cộng sự (2020) phân tích các tác động giảm nghèo trên các phương diện kinh tế, điều kiện sinh kế, giáo dục đào tạo và chăm sóc y tế.
  • Hướng nghiên cứu về cơ chế giảm nghèo của du lịch: Nwokorie (2016) chỉ ra người nghèo giảm nghèo nhờ trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho du khách và hưởng lợi từ hạ tầng, nguồn thu thuế du lịch. Komathi & Rossazana (2018) xác định kết quả giảm nghèo qua sự thay đổi về tiền lương, lương thực, giáo dục, y tế, tiếng nói và sự an toàn. Onur (2018) đánh giá ảnh hưởng của du lịch đến sinh kế địa phương trên ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
  • Hướng nghiên cứu về vốn sinh kế và năng lực tiếp cận: Ellis (2000), Triệu Văn Hùng (2013), Võ Văn Tuấn & Nguyễn Cảnh Dũng (2015) nhấn mạnh vốn con người là nhân tố trung tâm chi phối việc vận dụng các tài sản sinh kế khác và đa dạng hóa sinh kế phi nông nghiệp. Mitchell & Ashley (2010), Pleumarom (2012) lập luận nhóm có vốn, kỹ năng và quan hệ tốt hơn sẽ hưởng lợi nhiều hơn từ du lịch. Sen (1999), Lê Ngọc Phương Quý (2021) phân tích các rào cản tiếp cận nguồn lực và sự khác biệt về đặc điểm văn hóa, sinh kế giữa các nhóm tộc người.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Kế thừa các nghiên cứu đi trước, luận án định vị sự đóng góp bằng việc khắc phục hai hạn chế lớn:

  1. Chuyển đổi phương pháp tiếp cận từ đo lường giảm nghèo đơn chiều dựa trên thu nhập sang đo lường giảm nghèo đa chiều (dựa trên Nghị định 07/2021/NĐ-CP của Chính phủ) tích hợp trong khung sinh kế bền vững (SLA).
  2. Không quy gộp chung các nhóm dân tộc thiểu số mà tiến hành phân tích sâu, so sánh đối chiếu mức độ sở hữu 5 nguồn vốn sinh kế và kết quả giảm nghèo thực tế giữa ba cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ là người Hoa, người Chăm và người Khmer tại An Giang.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững: Vận dụng định nghĩa của Cục Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 2000) và Chambers & Conway (1992) về khả năng ứng phó, phục hồi trước các cú sốc và duy trì, nâng cao tài sản sinh kế.
  • Khung sinh kế bền vững (SLF/SLA): Tiếp cận mô hình của DFID (2000), Drinkwater & Rusinow (1999), Schen và cộng sự (2008).
  • Khung sinh kế dựa vào du lịch: Sử dụng lý thuyết của Fujun (2008, 2009) và Onur và cộng sự (2018), xác định 5 nguồn vốn sinh kế du lịch gồm: Vốn con người (H), Vốn xã hội (S), Vốn tự nhiên (N), Vốn tài chính (F) và Vốn thể chế (I).
  • Khung đo lường chuẩn nghèo đa chiều: Dựa trên Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021–2025, đánh giá mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin) cùng ba phương diện: kinh tế, tiếp cận dịch vụ xã hội, sinh kế và văn hóa xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng (Mixed Methods Approach).

Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp
  • Nghiên cứu định tính: Tham vấn ý kiến chuyên gia và gửi phiếu góp ý đến 6 chuyên gia (01 lãnh đạo Phòng Quản lý Du lịch thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang; 05 giảng viên Trường Đại học An Giang) và 9 hộ dân tham gia du lịch. Sau đó, tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện chính quyền địa phương, giảng viên và các hộ dân tộc thiểu số để làm rõ các khó khăn, cơ chế sinh kế và tác động giảm nghèo.
  • Nghiên cứu định lượng:
    • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng quy trình chọn mẫu nhiều giai đoạn (De Vaus, 2013). Giai đoạn 1 chọn 5 địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số: Tịnh Biên, Tri Tôn, An Phú, Tân Châu, Châu Đốc. Giai đoạn 2 áp dụng chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống từ danh sách hộ nghèo, cận nghèo do Phòng Dân tộc và UBND các xã cung cấp (mỗi hộ điều tra 1 người đại diện; nếu sau 3 lần không gặp thì chọn hộ lân cận thay thế; có sự hỗ trợ của Trưởng ấp).
    • Quy mô mẫu: Tổng thể $N = 18.892$ hộ dân tộc thiểu số tại An Giang (theo Niên giám Cục Thống kê tỉnh An Giang năm 2019). Cỡ mẫu xác định theo công thức Taro Yamane với sai số cho phép $e = 0,05$: $$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2} = \frac{18.892}{1 + 18.892 \cdot (0,05)^2} \approx 390 \text{ hộ}$$ Tác giả phát dư 10% (39 bảng), nâng tổng số phiếu khảo sát phát ra lên 429 bảng để bù đắp các phiếu lỗi hoặc thiếu thông tin. Trước đó đã tiến hành khảo sát thử nghiệm 30 bảng.
    • Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Thống kê mô tả (Descriptive Statistics); Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA); Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (Multiple Linear Regression); Phân tích sâu ANOVA một yếu tố (Post-hoc One-way ANOVA).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tính cấp thiết của đề tài và tổng quan nghiên cứu

Chương này làm rõ bối cảnh quốc tế và thực tiễn địa phương tại An Giang; xác lập hệ thống 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể; giới hạn đối tượng và phạm vi không gian tại 5 huyện/thị/thành phố trong giai đoạn dữ liệu 2017–2022; xác định 4 điểm mới và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của đề tài trong việc bổ sung luận cứ lý thuyết về sinh kế du lịch và giảm nghèo đa chiều.

Chương 2: Cơ sở khoa học về sinh kế và giảm nghèo của du lịch đối với hộ dân tộc thiểu số

Tác giả hệ thống hóa các khái niệm nền tảng: sinh kế (DFID, 2000), sinh kế bền vững (Chambers & Conway, 1992), tài sản sinh kế gồm 5 nguồn lực và sinh kế dựa vào du lịch (Fujun, 2008, 2009; Onur, 2018). Phân tích các tiêu chí đo lường giảm nghèo qua du lịch (Komathi & Rossazana, 2018; Nwokorie, 2016) và đối chiếu với chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021–2025 theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP của Chính phủ.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đặc điểm địa bàn tỉnh An Giang (diện tích tự nhiên 3.536,8 $\text{km}^2$, chiếm 1,03% diện tích cả nước, tiếp giáp Campuchia 104 km). Thiết lập quy trình nghiên cứu hỗn hợp: phỏng vấn sâu 15 cá nhân (chuyên gia quản lý, giảng viên, hộ dân); khảo sát sơ bộ 30 bảng; khảo sát chính thức $n = 390$ hộ (phát ra 429 bảng) theo công thức Taro Yamane trên tổng thể 18.892 hộ; xây dựng quy trình phân tích định lượng qua các kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, hồi quy tuyến tính và ANOVA.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương này trình bày các phát hiện định lượng và định tính từ dữ liệu khảo sát:

1. Đánh giá các nguồn vốn sinh kế của hộ dân tộc thiểu số

Các thang đo Likert (từ 1 đến 5 điểm) đo lường 5 nguồn vốn sinh kế đạt độ tin cậy và có sự biến thiên cụ thể:

  • Vốn con người (6 biến đo lường): Giá trị trung bình dao động từ 3,96 đến 4,58. Biến cao nhất là "Có kiến thức du lịch và kỹ năng giao tiếp tốt giúp tham gia tốt hoạt động du lịch" (4,58); biến thấp nhất là "Số lượng thành viên trong độ tuổi lao động nhiều thuận lợi tham gia du lịch" (3,96).
  • Vốn xã hội (8 biến đo lường): Giá trị trung bình dao động từ 4,10 đến 5,64. Biến cao nhất là "Thái độ niềm nở và thân thiện với khách du lịch" (5,64); biến thấp nhất là "Hệ thống điện nước đảm bảo giúp kinh doanh du lịch dễ hơn" (4,10).
  • Vốn tài chính (5 biến đo lường): Giá trị trung bình dao động từ 3,99 đến 4,66. Biến cao nhất là "Được vay vốn ưu đãi ở địa phương" (4,66); biến thấp nhất là "Phương tiện, máy móc và thiết bị hỗ trợ phục vụ khách" (3,99).
  • Vốn tự nhiên (8 biến đo lường): Giá trị trung bình dao động từ 3,57 đến 4,10. Biến cao nhất là "Sở hữu ngôi nhà truyền thống giúp hoạt động du lịch dễ hơn" (4,10); biến thấp nhất là "Hoạt động du lịch dựa vào đất ruộng của gia đình" (3,57).
  • Vốn thể chế (8 biến đo lường): Giá trị trung bình dao động từ 3,77 đến 4,30. Hai biến cao nhất là "Hỗ trợ vốn của địa phương" (4,30) và "Chính quyền hỗ trợ công tác xúc tiến quảng bá du lịch" (4,30); biến thấp nhất là "Tham gia vào ban quản lý du lịch tại địa phương" (3,77).

2. Kết quả phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến

Mô hình hồi quy đánh giá tác động của 5 nguồn vốn sinh kế đến "Kết quả giảm nghèo của hộ DTTS" ($Y$). Tất cả các biến độc lập đều có tương quan dương ($r = 0,163 - 0,577$, $\text{Sig.} < 0,05$). Kiểm định không vi phạm giả định đa cộng tuyến ($1 < \text{VIF} < 3$), không có tự tương quan phần dư ($\text{Durbin-Watson } D = 1,565$).

Thông số mô hình Giá trị
Hệ số xác định $R^2$ 0,574
Hệ số xác định điều chỉnh $R^2$ hiệu chỉnh 0,574
Thống kê kiểm định $F$ 103,335 ($\text{Sig.} = 0,000$)
Hằng số hồi quy ($B_0$) -2,036
Sai số chuẩn của ước lượng 0,565
Thứ bậc tác động Biến độc lập (Nguồn vốn sinh kế) Hệ số hồi quy chuẩn hóa ($\beta$) Mức ý nghĩa ($\text{Sig.}$)
1 Vốn con người 0,462 0,000
2 Vốn tài chính 0,371 0,000
3 Vốn xã hội 0,330 0,000
4 Vốn tự nhiên 0,261 0,000
5 Vốn thể chế 0,241 0,000

Mô hình giải thích được 57,4% sự biến thiên của kết quả giảm nghèo ở các hộ dân tộc thiểu số tại An Giang.

3. Cơ cấu hoạt động sinh kế và thu nhập

Trong tổng cơ cấu thu nhập (100%) của hộ dân tộc thiểu số:

  • Hoạt động du lịch và dịch vụ liên quan đóng góp tỷ trọng cao nhất: 19,83%.
  • Làm ruộng: 19,70%.
  • Làm vườn: 17,33%.
  • Chăn nuôi: 13,09%.
  • Buôn bán: 12,14%.
  • Công việc khác chiếm tỷ lệ thấp nhất: 1,07%.

Trong các loại hình du lịch tham gia: Bán dịch vụ ăn uống quanh điểm du lịch chiếm 22,60%; làm nghề thủ công truyền thống chiếm 15,24%. Hoạt động kinh doanh homestay mang lại thu nhập bình quân cao nhất đạt 10,06 triệu đồng/người/tháng, trong khi các công việc phổ thông khác đạt thấp nhất là 2,27 triệu đồng/người/tháng.

4. Tác động của du lịch đến giảm nghèo đa chiều

  • Phương diện kinh tế (7 biến): Biến "Kinh tế gia đình được cải thiện" đạt trị số cao nhất (4,47). Hộ dân ghi nhận du lịch tạo việc làm, tăng thu nhập, hỗ trợ tiếp cận thị trường và giảm phụ thuộc thuần nông.
  • Phương diện dịch vụ xã hội cơ bản (15 biến): Điểm Likert dao động từ 3,91 đến 4,49. Biến cao nhất là "Được tham gia nhiều lớp tập huấn và học nghề tại địa phương" (4,49); biến thấp nhất là tiêu chí về chất lượng và diện tích nhà ở $\ge 8\text{ m}^2$ (3,91).
  • Phương diện sinh kế và văn hóa - xã hội: Điểm Likert dao động từ 3,92 đến 4,52. Biến cao nhất là "Tình trạng an ninh trật tự được đảm bảo" (4,52); biến thấp nhất là "Hệ thống phương tiện vận chuyển công cộng được đầu tư" (3,92).

5. Khác biệt giữa ba nhóm hộ Chăm, Hoa và Khmer (Kiểm định ANOVA)

  • Vốn con người: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa cả 3 nhóm; hộ người Hoa có vốn con người cao nhất, tiếp đến là người Khmer và người Chăm.
  • Vốn xã hội: Hộ Khmer không khác biệt với hộ Chăm; hộ người Hoa khác biệt rõ rệt so với hai nhóm còn lại.
  • Vốn kinh tế/tài chính: Cả 3 nhóm khác biệt nhau; xếp theo thứ tự: Người Hoa > Người Chăm > Người Khmer.
  • Vốn tự nhiên: Hộ Khmer khác biệt với hộ Chăm và Hoa; hộ Chăm và hộ Hoa tương đương nhau.
  • Vốn thể chế: Hộ Khmer khác biệt với hộ Chăm và Hoa; giữa hộ Chăm và Hoa không có sự khác biệt.
  • Kết quả giảm nghèo tổng thể: Hộ người Hoa đạt kết quả giảm nghèo cao nhất, tiếp đến là hộ Khmer; hộ người Chăm đạt mức độ giảm nghèo thấp nhất trên toàn bộ các phương diện kinh tế, dịch vụ xã hội, sinh kế và văn hóa xã hội.

Chương 5: Bình luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị chính sách

Đối chiếu kết quả với các nghiên cứu của Ellis (2000), Triệu Văn Hùng (2013), Võ Văn Tuấn & Nguyễn Cảnh Dũng (2015), Sen (1999), Lê Ngọc Phương Quý (2021). Luận án bình luận nguyên nhân khiến người Chăm gặp hạn chế giảm nghèo là do ràng buộc tôn giáo, phụ nữ ít có cơ hội học tập nâng cao trình độ, hạn chế phương tiện tiếp cận thông tin và giao lưu bên ngoài. Từ đó, tác giả đưa ra hai nhóm khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm nâng cao năng lực sinh kế và kết quả giảm nghèo.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Vận dụng và kiểm chứng thành công khung sinh kế bền vững (SLA) vào nghiên cứu du lịch đối với hộ dân tộc thiểu số tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, xác định cụ thể vai trò của 5 nguồn vốn sinh kế (con người, tài chính, xã hội, tự nhiên, thể chế).
  2. Tích hợp các tiêu chí đo lường chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021–2025 theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP vào đánh giá kết quả du lịch, vượt qua giới hạn của các nghiên cứu truyền thống vốn chỉ tiếp cận đơn chiều qua chỉ tiêu thu nhập.
  3. Cung cấp khung phân tích so sánh liên tộc người (Chăm, Hoa, Khmer) về mức độ tích lũy vốn sinh kế và mức độ thụ hưởng từ hoạt động phát triển du lịch.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Chỉ ra thứ bậc tác động của các nguồn vốn sinh kế đến kết quả giảm nghèo, trong đó vốn con người ($\beta = 0,462$) và vốn tài chính ($\beta = 0,371$) giữ vai trò quyết định nhất.
  2. Cung cấp dữ liệu thực chứng về cơ cấu thu nhập của hộ dân tộc thiểu số An Giang, chứng minh du lịch đã trở thành nguồn thu lớn nhất (19,83%), vượt qua làm ruộng (19,70%) và làm vườn (17,33%).
  3. Xác định rõ thực trạng hộ đồng bào Chăm đang có mức độ giảm nghèo thông qua du lịch thấp nhất do các rào cản về vốn con người, ngôn ngữ và tập quán tôn giáo.

Các đề xuất và kiến nghị chính sách

  • Nhóm giải pháp nâng cao sinh kế dựa vào du lịch:
    • Phát triển vốn con người: Mở các lớp đào tạo kỹ năng đón tiếp, phục vụ khách du lịch; biên soạn tài liệu ngắn gọn, dễ hiểu và phiên dịch sang chữ viết/tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số.
    • Phát triển vốn xã hội và tự nhiên: Gắn kết cộng đồng làng nghề truyền thống (dệt thổ cẩm, đường thốt nốt), cải thiện điều kiện cảnh quan, vệ sinh môi trường tại các hộ tham gia homestay.
    • Phát triển vốn tài chính và thể chế: Nâng cấp hệ thống điện, nước, hạ tầng viễn thông/internet; ban hành chính sách tín dụng ưu đãi và cơ chế khuyến khích nông dân tham gia chuỗi giá trị du lịch.
  • Nhóm giải pháp nâng cao kết quả giảm nghèo đa chiều:
    • Chính sách doanh nghiệp và việc làm: Ưu đãi thuế và hỗ trợ quỹ đất cho các doanh nghiệp đầu tư du lịch tại vùng dân tộc thiểu số để bao tiêu sản phẩm và tạo việc làm tại chỗ.
    • Chính sách giáo dục và y tế: Vận động trẻ em đến trường đúng độ tuổi, hỗ trợ chi phí học tập và dụng cụ học tập để nâng cao chất lượng nhân lực tương lai; cấp thẻ bảo hiểm y tế, thuốc miễn phí và nâng cấp thiết bị y tế cơ sở.
    • Chính sách đặc thù cho đồng bào Chăm: Bảo tồn phong tục tập quán, ẩm thực và lễ hội truyền thống, phát triển sản phẩm du lịch văn hóa tránh thương mại hóa cực đoan; tạo điều kiện sinh kế cho người cao tuổi và phụ nữ.
    • Tích hợp chính sách: Thống nhất các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và phát triển du lịch, giảm bớt đầu mối quản lý trung gian để tập trung nguồn lực hiệu quả.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi không gian và đối tượng: Nghiên cứu chỉ giới hạn điều tra trên địa bàn 5 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh An Giang (Tịnh Biên, Tri Tôn, An Phú, Tân Châu, Châu Đốc) và tập trung vào 3 nhóm hộ Chăm, Hoa, Khmer tham gia vào chuỗi du lịch. Kết quả chưa bao quát toàn bộ các dân tộc thiểu số khác hoặc các vùng sinh thái khác của Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Hạn chế về dữ liệu thời gian: Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn từ tháng 02/2021 đến tháng 02/2022 – thời điểm chịu tác động của giai đoạn phục hồi sau đại dịch, có thể phản ánh một số biến động nhất thời về lượng khách và doanh thu du lịch.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát so sánh liên tỉnh tại khu vực Tây Nam Bộ (như Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang).
    • Sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian (panel data) để đánh giá tác động dài hạn của các chính sách giảm nghèo đa chiều thông qua du lịch.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Dân tộc tỉnh An Giang và UBND các cấp trong việc xây dựng các đề án phát triển du lịch cộng đồng gắn với Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021–2025.
  • Đối với các nhà khoa học, giảng viên và nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các ngành Du lịch học, Kinh tế phát triển, Xã hội học và Nhân học; cung cấp mô hình đo lường kết hợp khung sinh kế bền vững (SLA) với chuẩn nghèo đa chiều.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Bảng hệ số hồi quy 5 nguồn vốn sinh kế (Chương 4), bộ thang đo đánh giá chuẩn nghèo đa chiều trong du lịch và hệ thống các khuyến nghị chính sách phân hóa theo từng nhóm tộc người (Chương 5).

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình hồi quy của luận án xác định nguồn vốn sinh kế nào có tác động mạnh nhất đến kết quả giảm nghèo của hộ dân tộc thiểu số tại An Giang?
Nguồn vốn con người có tác động tích cực lớn nhất đến kết quả giảm nghèo với hệ số hồi quy chuẩn hóa $\beta = 0,462$, tiếp theo là vốn tài chính ($\beta = 0,371$), vốn xã hội ($\beta = 0,330$), vốn tự nhiên ($\beta = 0,261$) và thấp nhất là vốn thể chế ($\beta = 0,241$). Tất cả đều có ý nghĩa thống kê với $\text{Sig.} = 0,000$.

2. Du lịch đóng góp bao nhiêu phần trăm trong tổng cơ cấu thu nhập của các hộ dân tộc thiểu số được khảo sát?
Du lịch và các dịch vụ liên quan đóng góp tỷ trọng cao nhất trong tổng thu nhập của hộ với 19,83%, xếp trên làm ruộng (19,70%), làm vườn (17,33%), chăn nuôi (13,09%), buôn bán (12,14%) và các công việc khác (1,07%).

3. Hoạt động du lịch nào mang lại mức thu nhập bình quân cao nhất cho người lao động dân tộc thiểu số?
Kinh doanh homestay mang lại thu nhập bình quân cao nhất, đạt 10,06 triệu đồng/người/tháng, trong khi nhóm công việc phổ thông phục vụ du lịch khác đạt mức thấp nhất là 2,27 triệu đồng/người/tháng. Hoạt động có tỷ lệ hộ tham gia đông nhất là bán dịch vụ ăn uống quanh các điểm du lịch (22,60%).

4. Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy sự khác biệt về mức độ giảm nghèo giữa ba cộng đồng Hoa, Chăm và Khmer như thế nào?
Hộ người Hoa có mức độ tích lũy vốn sinh kế và kết quả giảm nghèo qua du lịch cao nhất trên cả ba phương diện (kinh tế, dịch vụ xã hội, sinh kế và văn hóa - xã hội), kế tiếp là hộ người Khmer, và hộ người Chăm ở mức thấp nhất do các rào cản về vốn con người, ngôn ngữ và tập quán sinh hoạt tôn giáo.

5. Quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng của luận án được tiến hành như thế nào?
Từ tổng thể 18.892 hộ dân tộc thiểu số toàn tỉnh An Giang, tác giả áp dụng công thức Taro Yamane ($e = 0,05$) xác định cỡ mẫu tối thiểu là 390 hộ, khảo sát thực tế 429 hộ (thêm 10% dự phòng). Quy trình chọn mẫu thực hiện qua nhiều giai đoạn tại 5 địa bàn (Tịnh Biên, Tri Tôn, An Phú, Tân Châu, Châu Đốc) kết hợp phương pháp ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách của Phòng Dân tộc và UBND cấp xã.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Tố Quyên đã hoàn thiện khung phân tích sinh kế bền vững tích hợp các tiêu chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021–2025 để đánh giá vai trò của du lịch đối với hộ dân tộc thiểu số tỉnh An Giang. Kết quả nghiên cứu khẳng định du lịch là nguồn sinh kế đóng góp lớn nhất vào thu nhập hộ (19,83%) và chứng minh 5 nguồn vốn sinh kế đều tác động cùng chiều đến giảm nghèo, trong đó vốn con người giữ vai trò then chốt nhất. Công trình làm rõ sự khác biệt thực chứng về năng lực sinh kế và kết quả thoát nghèo giữa ba nhóm hộ Hoa, Khmer và Chăm, qua đó cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn để chính quyền địa phương ban hành các chính sách giảm nghèo đặc thù, hiệu quả và bền vững.