Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng của cây Lát hoa Chi Lát hoa (Chukrasia) thuộc họ xoan (Meliaceae) bao gồm hai loài là Chukrasia tabularis và Chukrasia velutina (De Candolle, 1878; Bandara, 1999; Gunn và cộng sự 2006). tabularis) thường cao từ 20-25m, có thể đến 40m, đường kính có thể đạt 120cm.
Trong khi đó, loài C. velutina được đánh giá là cây gỗ nhỏ hơn so với C. Lát hoa được thu mẫu và mô tả lần đầu tiên ở Ấn Độ bởi A. de Jussieu vào năm 1830 với hoa ngắn, 5 cánh, cánh thẳng đứng, nhị 10, hình ống, hình trụ (Gunn và cộng sự 2006).
tabularis) là cây gỗ lớn, rụng lá, thường cao từ 20-25m, có thể đến 40m, đường kính có thể đạt trên 120cm. Vỏ cây có màu nâu đến nâu sẫm, nứt dọc thân cây, lõi gỗ màu vàng ánh đỏ. Lá kép lông chim một lần, lá chét hình trứng thuôn dài, có từ 6-20 đôi lá chét. Hoa tự chùm đầu cành, bao hoa thuôn tròn, hoa 5 cánh, cánh hoa gần hình chữ nhật có màu vàng nhạt, dài 15-20mm, rộng 5-7mm, đỉnh cánh hoa gần tròn.
Nhị đực 10, ống nhị hình trụ, nhẵn, có 10 bao phấn. Bầu có 3-4 ngăn, mỗi ngăn có 25-50 noãn (Kalinganire and Pinyopusarek, 2000). Nghiên cứu trong rừng mưa nhiệt đới ở Tây Nam Arunchal Pradest, thấy rằng C. tabularis có xuất hiện ở 10,0-15,8% số ô tiêu chuẩn đã nghiên cứu và chiếm 1,0-1,5% độ phong phú tại đai độ cao từ 600-1.000m so với mặt biển (Bandara, 1999).
Trong các khu phân bố tự nhiên, Lát hoa sinh trưởng và phát triển tốt ở những nơi có lượng mưa từ 1.800mm với một hoặc vài tháng mùa khô, nhiệt độ trung bình năm từ 14-27oC, trên đất đỏ-vàng và vàng nâu phát triển trên đá bazan, đá vôi, đá phiến và mica. Lát hoa tái sinh tương đối Luan van 5 tốt ở những nơi có khoảng trống hoặc bìa rừng (Kalinganire and Pinyopusarek, 2000; Pinyopusarerk and Kalinganire, 2003). Lát hoa đã được phát hiện có ở Western Peninsula, Malacca, Ceylon; Andaman-Ấn độ (dẫn theo Nguyễn Bá Chất, 1996). Chúng phân bố tự nhiên ở vùng Nam Á và Đông Nam Á, ở độ cao từ 150-1.000m so với mực nước biển tại các nước Trung Quốc, Mianamar, Thái Lan, Malaysia, đảo Bruneo, Philippin, Bangladesh, Nepal, Ấn Độ Sri Lanka, Lào, Campuchia và Việt Nam (Ho and Noshiro, 1995; Kalinganire and Pinyopusarek, 2000; Pinyopusarerk and Kalinganire, 2003).
Gỗ Lát hoa có khối lượng thể tích từ 666-673kg/m3 ở độ ẩm 12% (Anon, 1974 ) và 625-880kg/m3 ở độ ẩm 15% (Ho and Noshiro, 1995). Gỗ có giá trị kinh tế cao, vân gỗ đẹp, thớ gỗ mịn, rất được ưa chuộng để làm đồ mộc cao cấp, nhạc cụ, ván sàn, cửa, và để trạm khảm. Ngoài ra còn được dùng để đóng tàu và làm vật liệu xây dựng nói chung. Vỏ cây chứa tannin và được dùng làm thuốc chữa bệnh (Gunn và cộng sự 2006).
Nhìn chung, Lát hoa (C. tabularis) là cây có giá trị kinh tế cao, gỗ có vân đẹp, thớ gỗ mịn, rất được ưa chuộng để làm đồ mộc cao cấp, nhạc cụ, ván sàn. Chúng có phân bố rộng và có khả năng tái sinh tốt, đặc biệt ở các khoảng trống hoặc bìa rừng nên khả năng gây trồng, phát triển rừng trồng Lát hoa phục vụ trồng rừng gỗ lớn là hoàn toàn khả thi. Các nghiên cứu về sâu hại Lát hoa Các loài sâu đục ngọn Hypsipyla spp.
thường hây hại các loài cây họ xoan, cụ thể như Hypsipyla robusta đục ngọn hai loài Swietenia macrophylla, Khaya senegalensis và Toona ciliat ở Ấn Độ, Sri Lanka, Philippin (Varma, 2001), đục ngọn Lát hoa ở Bangladesh, Lào, Malaysia, Thái Lan (Eungwijarnpanya, 2001; Samontry, 2001). Nghiên cứu đặc điểm gây hại của sâu đục ngọn trên Toona australis cho thấy vị trí chồi cây có liên quan rất chặt đến sự tấn công của sâu đục ngọn. Những cành ở độ cao trên 90% so với chiều cao của cây thường bị hại nặng nhất (Mo và cộng sự 1997). Luan van 6 Rừng trồng Lát hoa thuần loài, tập trung, không che bóng tại 5 địa điểm ở Thái Lan cho thấy tỷ lệ cây bị sâu đục ngọn Hypsipyla gây hại thấp nhất ở Ratchaburi, từ 7-68%, nơi trung bình (Prachuap Khiri Khan) từ 21-77%, và nơi cao nhất (Kansanaburi) từ 98-100% (Pinyopusarerk and Kalinganire, 2003).
Lát hoa bị sâu đục ngọn (H. robusta) gây hại nhiều khi trồng nơi chúng phân bố tự nhiên (Thái Lan, Lào) và bị hại nhẹ hơn ở khi trồng các nước khác (Australia và Phillipin) (Cunningham và cộng sự 2005). Ở Malaysia, Lát hoa dễ bị sâu đục ngọn gây hại hơn so với các loài cây họ xoan khác. Sâu đục ngọn cũng gây hại Lát hoa ở các nước thuộc phía Nam Châu Phi và ở Trung và Nam châu Mỹ (Ho and Noshiro, 1995).
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái học của sâu đục ngọn đã được thực hiện khá đầy đủ, qua đó xác định được các đặc điểm phát sinh, vòng đời, thời gian xuất hiện các pha trong năm, đặc điểm gây hại. qua đó góp phần xác định biện pháp phòng trừ, hạn chế thiệt hại do sâu đục ngọn gây ra đối với rừng trồng các loài cây thuộc họ xoan và cho cây Lát hoa nói riêng Grijpma và Roberts (1975); Griffiths (1996); Griffiths và cộng sự (2004). Thí nghiệm nuôi sâu trên cây Lát 1 năm tuổi được thực hiện tại vườn ươm thuộc đại học Queensland, Australia cho thấy sâu đục ngọn H. robusta thường đẻ trứng ở những khe nứt của vỏ cây hoặc tại những vết sẹo.
Kết quả cũng cho thấy yếu tố loài cây và điều kiện ánh sáng đã ảnh hưởng đến quá trình đẻ trứng của sâu trưởng thành: 71% số trứng tìm thấy trên các cây thuộc loài C. tabularis trong khi các cây thuộc loài C. Trên các cây được che bóng chỉ có 41% số trứng, trong khi có tới 59% số trứng trên cây trồng trong điều kiện đầy đủ ánh sáng. Sâu non bắt đầu ăn sau 2 giờ trứng nở tại những vị trí non, dễ tấn công như các đỉnh sinh trưởng, nách lá, nách lá chét và gân lá và phá hại mạnh nhất ở khoảng 8 giờ sau khi trứng nở (Đào Ngọc Quang, 2008).
Một nghiên cứu khác đối với hai loài Khaya anthotheca và K. ivorensis cũng cho thấy điều kiện ánh sáng ảnh hưởng rõ đến tỷ lệ bị Luan van 7 sâu đục ngọn, rừng trồng được mở tán 55% có tỷ lệ bị sâu đục ngọn tới 85% trong khi ở công thức mở tán 26% và 11% tỷ lệ bị sâu đục ngọn tương ứng là 11% và 0%. Tuy nhiên ở các công thức mở tán 26% và 11% cây sinh trưởng chậm hơn đáng kể (Opuni-Frimpong và cộng sự 2008). Đến nay, sâu đục ngọn được xác định là sinh vật gây hại chính và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với rừng trồng Lát hoa cũng như các loài cây họ xoan khác.
Do vậy, các nghiên cứu trên thế giới đều tập trung vào các loài sâu đục ngọn đối với cây Lát hoa. Các nghiên cứu về quản lý sâu đục ngọn Lát hoa Sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng đã được thực hiện từ rất lâu và đạt hiệu quả cao, tác dụng nhanh (McGrath, 2009; Blaedow và cộng sự 2010) nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nếu sử dụng quá mức. Các biện pháp phòng các loài trừ sâu đục ngọn Hypsipyla spp. cho rừng trồng các loài cây thuộc họ xoan nói chung và cho cây Lát hoa nói riêng đã được thực hiện thành công cụ thể như giải pháp kết hợp giữa các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, sinh học và sử dụng hóa chất để kiểm soát sâu đục ngọn (Grijpma and Roberts, 1975; Griffiths, 1996).
Việc phòng trừ các loài sâu đục ngọn Hypsipyla spp. cho các loài cây họ xoan đã được thực hiện thành công với việc sử dụng 51 loại thuốc hóa học khác nhau đã được hực hiện ở hàng nhiều quốc gia từ vùng Nam Á, Châu Phi đến Nam Mỹ (Wylie, 2001; Griffiths và cộng sự 2004). Phòng trừ các loài sâu đục ngọn Hypsipyla spp. cho các loài cây họ xoan bằng các loài thiên địch đã được thực hiện hiện, qua đó xác định được Anthocephalus renalis, Tetrastichus spirabilis, Phanerotoma sp., Trichogrammatoidea nana và T.
robusta có thể kiểm soát hiệu quả sâu đục ngọn ở các nước vùng Caribea (Sands and Murphy, 2001). Nghiên cứu các cá thể sâu bị chết đã xác định Bacillus thuringiensis, Deuteromycete và Luan van 8 nucleopolyhedrovirus (NPV) là sinh vật ký sinh, gây chết sâu đục ngọn (Hauxwell và cộng sự 2001). Thí nghiệm nhiễm ký sinh cho sâu đục ngọn ở các nước Mỹ Latinh đã xác định Apanteles sp. có khả năng ký sinh, kiểm soát sâu rất tốt (Blanco-Metzler và cộng sự 2001).
Việc trồng Lát hoa hỗn giao với các loài cây khác hoặc trồng dưới tán rừng trồng để giảm thiểu sự phá hại của sâu đục chồi đã được thực hiện tại Ấn Độ và cho kết quả khả quan (Anon, 1974; Boland, 2000). Điều kiện ánh sáng có ảnh hưởng đến khả năng bị sâu đục ngọn của Lát hoa, các cây được che bóng thường ít bị hại hơn các cây trồng ở điều kiện ánh sáng đầy đủ (Đào Ngọc Quang, 2008), kiểm soát mở tán rừng cũng giúp kiểm soát rất tốt sâu đục ngọn gây hại rừng trồng K. Nghiên cứu nuôi sâu bằng thức ăn dạng hạt nhằm tạo số lượng sâu lớn rất hiệu quả, qua đó phục vụ việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học của sâu đục ngọn và phục vụ công tác nghiên cứu biện pháp quản lý dịch hại (Blanco- Metzler và cộng sự 2001). Nghiên cứu phòng trừ tổng hợp các loài sâu đục ngọn cho rừng trồng các loài cây họ xoan muốn đạt hiệu quả và quản lý thành công cần có thêm các nghiên cứu bổ sung về phân loại sâu hại, các yếu tố liên quan giữa cây chủ và tác động của sâu hại, kết hợp các biện pháp phòng từ hóa học và sinh học (Speight and Cory, 2001).
Việc sử dụng kết hợp Beauveria bassiana (mật độ 108Cfu/mg, liều lượng 4kg/ha), thuốc trừ sâu và giống kháng sâu để hạn chế sâu đục ngọn cho rừng trồng cây họ xoan ở Cu Ba (Casanova và cộng sự 2001). Nghiên cứu phòng trừ sâu đục ngọn cho các cây họ xoan đã được thực hiện nhưng mới chỉ có một số kết quả phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa bằng biện pháp lâm sinh, Chưa có nghiên cứu phòng trừ hóa học, sinh học và quy trình phòng trừ tổng hợp sâu đục ngọn Lát hoa. Các kết quả nghiên cứu nêu Luan van 9 trên là nguồn thông tin hữu ích để đề tài tham khảo, kế thừa nhằm thực hiện hiệu quả các nội dung liên quan.