Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược về cây Phi Lao Cây Phi lao có nguồn gốc từ Châu Úc, hiện nay đã được trồng ở hầu hết các nước Châu Á, Đông Nam Á và Châu Phi nhiệt đới. Người Pháp đã đem cây Phi lao trồng ở Việt Nam từ năm 1986. Hiện nay Phi lao đã trở thành một trong những loài cây gỗ quen thuộc của Việt Nam.
Hầu hết các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang đều trồng Phi lao trên các bãi cát ven biển. Nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam trồng Phi lao làm cây chắn gió, cây ven đường làm cây bóng mát, hay trong công viên làm cây cảnh. Hiện nay ở Việt Nam có 4 loài thuộc chi Phi lao (Casuarina Adans) đã được nhập nội từ Châu Úc đó là: Phi lao (Casuarina equisetifolia Forst): Cây gỗ lớn, là một trong những cây gỗ trồng rừng và làm cây bóng mát quan trọng ở Việt Nam. Phi lao cunningham ( C.): Cây gỗ nhỏ trồng làm cảnh.
Phi lao junghun (C.tungnian Miq): Cây gỗ nhỏ trồng làm cảnh. Phi lao hoa trần (C.): Cây gỗ nhỏ trồng làm cảnh. Trong 4 loài Phi lao trên chỉ có loài Phi lao (Casuarina equisetifolia Forst) là cây gỗ lớn được nhập vào Việt Nam từ rất lâu đời để trồng trên các bãi cát ven biển, còn 3 loài Phi lao kia cây gỗ nhỏ, mới được nhập nội để trồng làm cảnh các thành phố lớn thời gian gần đây. Theo giáo sư Lâm Công Định, ở Việt Nam, Phi lao có 2 chủng: Phi lao trắng và Phi lao tía.
Phi lao trắng có tỷ lệ quả/hạt là 1/35, gỗ màu trắng đặc lõi phân biệt rõ, thớ thẳng, gỗ mềm nhẹ, không bền. Phi lao tía có tỷ lệ quả hạt 1/16, gỗ màu hồng, đặc lõi phân biệt, gỗ nặng và bền hơn Phi lao trắng. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Phi lao có phạm vi thích ứng về mặt khí hậu tương đối rộng, từ khu vực xích đạo mưa nhiều, lượng mưa trung bình năm trên 2.000 mm và không có mùa khô, đến khu vực khí hậu gió mùa có lượng mưa thấp 700 – 800 mm và mùa khô kéo dài 6 – 7 tháng. Các khu vực này, Phi lao thường sống trên các bãi cát ven biển, thích hợp với các loài đất các loại đất cát pha nhẹ, tốt, sâu, ẩm, thoát nước, độ PH 6,5 – 7,0.
Cây sinh trưởng nhanh cành lá xum xuê, hệ rễ phát triển, rễ cọc ăn sâu đến 2m, rễ ngang lan rộng và có vi khuẩn cố định đạm Frankia, có thể chịu được gió bão cấp 10, chịu được cát vùi lấp trốc rễ. Thân chịu được cát va đập, nếu cây bị cát vùi lấp, nó có thể ra lớp rễ phụ mới ở ngang mặt đất. Vì vậy ở Việt Nam, tới nay Phi lao vẫn là cây gỗ được trồng trên vùng cát cố định và cát bay ven biển. Sau khi trồng được 1 năm, cây có thể đạt chiều cao 2 – 3 m, đường kính 3cm, cây 4 tuổi cao 11-12 m, đường kính 12 -15 cm; cây 10 tuổi cao 18 – 20 cm, đường kính trên 20 cm.
Thông thường trên 25 tuổi cây ngừng sinh trưởng chiều cao, đến 35- 50 tuổi cây già cỗi. Phi lao sinh trưởng quanh năm nhưng vào mùa mưa, cây sinh trưởng nhanh hơn. Ở giai đoạn tuổi nhỏ cây chịu khô và chịu rét kém, vượt qua giai đoạn này cây sinh trưởng tốt hơn. Cây tái sinh chồi rất tốt.
Trên cây có nhiều rễ bất định, do đó thân cây bị vùi lấp tới đâu, cây vẫn ra rễ ở nơi đó và sinh trưởng bình thường. Cây sinh trưởng tốt nhất trên đất cát mới bồi tụ ven biển và đồng bằng, có thể sống được trên đất cát nghèo, đất dốc tụ có tầng dày, thành phần cơ giới nhẹ, độ PH 5,5. Nhưng trên đất quá khô xấu, đất đồi tầng mỏng, lẫn nhiều đá, đất có thành phần cơ giới nặng, bí chặt, độ PH 4 - 4,5, cây sinh trưởng rất kém, lá vàng đỏ, thường biến dạng thành cây bụi, thấp, thân nhỏ, cành lòa xòa trên mặt đất hoặc chết dần. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây Phi lao 1. Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại cây Phi Lao trên thế giới Năm 2012, Hoàng Kim Thủy đã thống kê trên cây Phi Lao có 143 loài sâu hại thuộc 47 họ, 5 bộ côn trùng. Trong đó một số loài gây hại chủ yếu như: Xén tóc vân hình sao (Anoplophora chinensis Forster), Ngài đục thân (Zeuzera multistrigata Moore), Sâu hại vỏ (Euzophera batangensis Caradja), Ngài đục thân (Arbela bailbarana Matsumura) gây hại chủ yếu bộ phân thân cây Phi lao; Ngài độc hại lá (Lymantria xylina Swinhoe), Châu Chấu (Chondracris rosea rosea De Geer) gây hại lá cây. Ngoài ra một số loài hút nhựa cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng phát triển của cây như Ve sâu (Poophilus costalis Walker), Rệp bọt trắng (Icerya purchasi Maskell)[22].
Năm 1960, Trần Tổ Thành đã tiến hành diều tra tình hình phá hoại của Xén tóc vân hình sao ở tỉnh Phúc Kiến và vạch ra phương pháp phòng trừ. Năm 1966 đã có báo cáo về tính nguy hại và kinh nghiệm phòng trừ loại Xén tóc như diệt Xén tóc trưởng thành, Sâu non, diệt trứng, bóc vỏ cây và phun thuốc. Lưu Vĩnh Chương (1980) lần đầu tiên dùng bột gỗ cây kí chủ để nuôi sâu non Xén tóc tuổi nhỏ và quan sát sau 30-40 ngày sâu non chui vào sâu bột gỗ để vào nhộng đây cũng là kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của Xén tóc vân hình sao để làm cơ sở cho phòng trừ sâu hại cây Phi lao. Năm 1980 thế kỷ 20, Trung Quốc đã tiến hành nhập từ Úc 46 loài cây Phi lao khác nhau trồng ở 6 khu vực từ Hải Nam đến Quảng Đông.
Cùng với thời gian nay Xén tóc vân hình sao xuất hiện và gây hại nguy hiểm đến các loài cây Phi lao. Năm 1996-2000, Xén tóc vân hình sao được xếp vào loài sâu hại chủ yếu trên cây Phi Lao, các nghiên cứu khác nhau về đặc điểm sinh học, biện pháp phòng trừ, chọn cây mồi, chọn giống kháng sâu. đã được tiến hành. Xén tóc vân hình sao phát triển ở Châu Á, chủ yếu ở Trung Quốc, bán 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đảo Triều Tiên, Nhật Bản, Malaysia, Philippin, Việt Nam.
Song đồng thời do việc thương mại quốc tế phát triển cùng với việc vận chuyển cây, gỗ tròn và gỗ xẻ nên phát triển ra toàn thế giới. Từ năm 1980 tại Châu Đại Dương, Châu Âu, và Bắc Mỹ, hàng năm từ 1991 - 1995 đều có báo cáo về loại côn trùng này. Năm 2001 ở Wasington, Hoa Kỳ đã phát hiện ra loài Xén tóc vân hình sao và tiến hành nghiên cứu đưa ra các biện pháp phòng trừ. Năm 2009 đã tuyên bố diệt trừ được loại này.
Ở các nước Châu Âu như Ý, Pháp, Hà lan cũng có loại sâu này. Năm 40 của thế kỷ 20, hai ông Gressitt (1940), Lieu (1945) đã nghiên cứu đến Xén tóc vân hình sao và kiến nghị cách phòng tránh, đồng thời việc phát hiện loại này các học giả quốc tế đã nghiên cứu dày công ở cấp độ khác nhau và đề ra cách phòng ngừa[16]. Năm 1903, Swinhoe lần đầu tiên ghi nhận có một loài ngài ăn tạp điển hình có tên khoa học là Lymantria xylina Swinhoe. Cùng với việc phát triển việc trồng cây Phi lao ở các vùng Trung Quốc trên diện tịch khá lớn nên dần biến thành chỗ ẩn trú cho loài này gây ra dịch.
Vì vậy các học giả ở Phúc Kiến, Đài Loan đã nghiên cứu khá nhiều, Lý Hữu Thiềm (1981) đã nghiên cứu hệ thống tập tính sinh hoạt của loài này. Năm 1985 Vương Ngọc Trâm, Vũ Thủy Xương đã có báo cáo về tập tính sinh hoạt và cách phòng trừ loài này ở Đài Loan. Sau năm 1980, thế kỷ 20 vì tình hình phá hoại của loài sâu này tăng lên nhiều nên các nhà khoa học nghiên cứu, sản xuất, quản lý ở Trung Quốc đã nghiên cứu về kỹ thuật phòng trừ, dự báo kết quả. Năm 1993 Lý Bằng và Lý Văn Tuyên đã nghiên cứu không gian hoạt động của loài nhộng, sâu non.
Năm 2004, Ngụy Sở Tương cũng đã nghiên cứu loại ngài độc ở Phúc Kiến, kỹ thuật phòng trừ là một trong những nội dung phòng sâu bệnh trong ngành 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 lâm nghiệp. Loài ngài này chủ yếu ăn lá nên việc phòng trừ sinh học có kết quả tốt và đã nhiều lần thí nghiệm trong mọi điều kiện của ấu trùng khác nhau có thể tạo ra dịch. Năm 80, 90 thế kỷ 20 đã đạt cao trào của việc nghiên cứu. Hồ Lâm Học (1985), Chu Chính Văn (1980) cũng đã nghiên cứu đến loại côn trùng này để phòng trị trên diện tích lớn.
Trần Thuận Lập(1987), Tạ Liệu Vy (1987), Hà Thùy Lương (1991), Lâm Khánh Nguyên (2000) cũng đã nghiên cứu loại thuốc trừ loại sâu này và đã kết luận loại thuốc Bạch Cương là loại thuốc chính trừ sâu. Ở Đài Loan dùng thuốc Bạch cương diệt ấu trùng sau 7 tháng kết quả diệt được trên 83% (Trần Trúc Cô, 2001). Viện Lâm nghiệp Phúc Kiến đã dùng thuốc Metarhizium anisopliae, qua thí nghiệm và đạt được kết quả khá tốt ( Trần Thủ Bình 2010, Hà Học Hữu 2011, Đặng Trung Thành 1992) đã thử khả năng dùng thuốc phòng trị[19,20,21]. Xén tóc vân hình sao (Anoplophora chinensis Forster) có phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á.
Nhưng quá trình trao đổi, giao lưu hàng hóa nông lâm sản phát triển, Xén tóc vân hình sao từ Châu Á đi cùng với hàng hóa nông lâm sản đi vào các nước Châu Âu, Italia, Pháp, Hà Lan. Hiện nay nó đã được Tổ chức bảo vệ thực vật Châu Âu (European Plant Protection Organization) đưa vào danh sách cần được kiểm dịch. Xén tóc vân hình sao là loài có diện tích gây hại rất lớn và gây hại nghiêm trọng, loài này trú ngụ trên cây, chủ yếu bám vào phần thân cây cách dưới mặt đất khoảng 40 cm trở xuống, có thời gian gây hại khoảng 10 tháng. Vào những năm 40 của thế kỷ 20 các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sự gây hại của loài Xén tóc này.
Năm 1966, tại Trung Quốc lần đầu tiên ghi nhận Xén tóc vân hình sao gây hại trên cây Phi Lao tại một số Lâm trường tại khu vực Tỉnh Phúc Kiến. Vào những năm 80 cùng với sự gia tăng của diện tích rừng trồng Phi lao và cây Phi lao bắt đầu lớn tuổi, sức đề kháng giảm thì Xén tóc vân hình sao trở thành một loài gây hại nghiêm trọng, diện tích bị hại có những khu vực lên tới 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.