CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG 1. Rủi ro tín dụng cùa ngân hàng 1. Khái niệm Theo Castro (2013), rủi ro tín dụng được định nghĩa là rủi ro của một khoản vay mà không được hoàn trả (một phần hay toàn bộ) cho người cho vay. Theo Yuldakul (2014), rủi ro lớn nhất mà các ngân hàng gặp phải chính là rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng liên quan đến khả năng tổn thất của một ngân hàng khi người đi vay không đủ khả năng hoàn trả đúng thời hạn hoặc không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng mà họ đã ký với ngân hàng. Theo Manab, Theng và Md-Rus (2015), rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mất mát hoặc tổn thất các tài sản có giá trị xảy ra do đối tác không có đủ khả năng để đáp ứng các nghĩa vụ theo hợp đồng. Từ các định nghĩa trên, ta có thể thấy rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ.
Rekha Arunkumar trong bài nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cho rằng rủi ro tín dụng là sự không trả được nợ của người vay, nó vẫn là rủi ro quan trọng nhất cần được quản lý cho đến ngày nay. Rủi ro tín dụng là được phản ánh trong thành phần vốn của nền kinh tế, ngân hàng được yêu cầu phải kiểm soát nó để ngăn chặn chống lại những rủi ro khác. Phân loại rủi ro tín dụng 1. Phân theo nguồn gốc hình thành rủi ro - Rủi ro giao dịch: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay và đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. 10 - Rủi ro danh mục: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Phân theo tính chất của rủi ro tín dụng - Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn, người vay bị chết, mất tích,… dẫn đến thất thoát vốn vay mặc dù ngân hàng cho vay và người đi vay đã thực hiện đầy đủ các qui định về quản lý và sử dụng khoản vay. - Rủi ro chủ quan: là rủi ro thuộc về lỗi của ngân hàng hoặc bên đi vay do vô tình hoặc cố ý gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay.
Đối với rủi ro chủ quan nếu có những biện pháp hợp lý có thể khắc phục hoặc hạn chế được loại rủi ro này. Các dấu hiệu cảnh báo sớm rủi ro tín dụng Nhận diện đúng rủi ro tín dụng để từ đó có những giải pháp phù hợp nhằm phòng ngừa và xử lý các khoản tín dụng có rủi ro, là động tác quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Theo các báo cáo kiểm soát nội bộ ngân hàng, CBTD luôn phải theo dõi, giám sát khoản vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau: Bảng 1. Các dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng Phân loại STT Nội dung Không thực hiện đầy đủ các cam kết với Ngân hàng Nhóm dấu hiệu như chậm thanh toán/ thanh toán không đầy đủ các có liên quan đến khoản nợ gốc/ lãi khi đến hạn, trì hoãn hoặc gây mối quan hệ 1 khó khăn cho ngân hàng trong kiểm tra tình hình sử giữa ngân hàng dụng vốn vay, chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các số với khách hàng liệu/ báo cáo tài chính theo yêu cầu của ngân hàng mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục 11 Mức độ vay gia tăng, yêu cầu cấp tín dụng vượt quá nhu cầu dự kiến, tìm kiếm thêm nhiều nguồn tài trợ vốn lưu động từ nhiều kênh khác như vay nặng lãi 2 hoặc các TCTD khác, đề nghị cơ cấu nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu căn cứ thuyết phục mang tính khách quan Có sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản thanh toán/ doanh số ghi có tại ngân hàng, dùng nguồn 3 thu nhập khác không phải từ hoạt động sản xuất chính để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán nợ Có dấu hiệu tài sản đảm bảo đã cho người khác 4 thuê, bán hay trảo đổi hoặc không còn tồn tại Sử dụng vốn ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài 5 hạn Phương thức thanh toán không an toàn: chiết khấu 1 nhiều hơn, thanh toán chậm hơn, bán cho khách hàng mức độ tin cậy thấp Năng lực quản trị yếu kém: Nội bộ mâu thuẫn, thay Nhóm dấu hiệu đổi thường xuyên nhân sự chủ chốt, phương án 2 là các yếu tố kinh doanh không hiệu quả, không kiểm soát được bên trong và hoạt động, tiến độ thực hiện, chi phí bên ngoài Năng lực tài chính yếu kém: Vốn chủ sở hữu thấp, doanh nghiệp dư nợ cao, hạch toán khống các khoản mục (hàng 3 tồn kho, vốn chủ sở hữu, lợi nhuận, rút vốn ra khỏi doanh nghiệp bằng cách mua lại vốn góp của cổ đông với giá cao…) 4 Đầu tư dàn trải ngoài lĩnh vực kinh doanh chính 12 của doanh nghiệp Yếu tố chuyển giá: giao dịch với công ty con hoặc công ty của người có liên quan điều chỉnh giá nhằm 5 đẩy chi phí tăng cao chuyển lợi nhuận cá nhân, công ty con Các tác động có ảnh hưởng tiêu cực khác từ môi trường bên ngoài: thị hiếu tiêu dùng của khách hàng thay đổi; thay đổi chính sách về thuế quan, trợ 6 cấp, chống bán phá giá của nhà nhập khẩu; nguồn nguyên liệu không chủ động được khiến giá cả đầu vào tăng; chiến lược của đối thủ cạnh tranh Không xác định chính xác tổng nhu cầu vốn vay 1 của khách hàng, cấp tín dụng vượt quá nhu cầu thực tế Không xác định đúng loại hình kinh doanh chủ yếu đem lại dòng tiền chính cho khách hàng nên áp 2 Nhóm dấu hiệu dụng một cách cho vay máy móc, không phù hợp xuất phát từ với khả năng thanh toán thực tế chính sách và Chính sách tín dụng quá lỏng lẻo để kẻ hở cho 3 nghiệp vụ tín khách hàng lợi dụng dụng của ngân Hồ sơ tín dụng tuân thủ không đầy đủ các quy định 4 hàng hiện hành của cấp phê duyệt tín dụng Tập trung danh mục tín dụng vào một đơn vị hay 5 một nhóm các đơn vị liên kết nhau Ngừng cấp vốn đột ngột (khi nghe tin tức không tốt 6 về sản xuất kinh doanh của khách hàng) làm khách hàng thiếu vốn trong ngắn hạn 13 Trên cơ sở các dấu hiệu để nhận diện sớm rủi ro tín dụng nêu trên, các bộ khách hàng tiến hành đánh giá, phân loại khoản vay/khách hàng để xác định mức độ rủi ro.
Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng 1. Các nhân tố từ môi trường bên ngoài - Môi trường tự nhiên biến đổi nhanh chóng: Các yếu tố rủi ro do thiên nhiên gây ra như hạn hán, bão lụt, dịch bệnh… gây tổn thất cho khách hàng vay vốn làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, đến khả năng trả nợ ngân hàng. Từ đó, có thể làm cho ngân hàng không thu hồi được một phần hoặc toàn bộ vốn. Mặc dù những rủi ro này là khó lường trước được nhưng bù lại nó chiếm tỉ lệ không lớn.
Mặt khác, khi gặp rủi ro nay ngân hàng có thể sẽ được nhà nước hỗ trợ. Hoặc để giảm thiểu rủi ro, ngân hàng nên tư vấn khách hàng các sản phẩm bảo hiểm tín dụng vì nếu rủi ro xảy ra sẽ được chia sẻ với công ty bảo hiểm. - Môi trường kinh tế và chính sách kinh tế vĩ mô của quốc gia: Sự ổn định của nền kinh tế ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường. Ví dụ như một sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng, nguyên vật liệu đầu vào tăng làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng, khó khăn tài chính dẫn đến không có khả năng trả nợ, gây tổn thất cho ngân hàng.
Hiện nay, thị trường thế giới biến động quá nhanh và khó dự đoán chính xác được, là hậu quả tất yếu của quá trình tư do hóa tài chính, hội nhập quốc tế. Do vậy, chủ trương, chính sách của Nhà nước đúng đắn, hợp lý, thì mới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điều kiện cần để đạt chất lượng và hiệu quả cho các khoản tín dụng ngân hàng. Vì vậy, hệ thống ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thông tin kinh tế vĩ mô dựa trên chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất, chính sách tài khóa trước khi ra quyết định tín dụng. Bên cạnh đó, hoạt động cấp tín dụng phụ thuộc rất nhiều thói 14 quen, truyền thống, tập quán của người dân.
Những yếu tố đó nhiều khi gây khó khăn và hạn chế mở rộng hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Tất cả nguyên nhân khách quan đến từ môi trường kinh tế kể trên nếu không được dự báo chính xác và có biện pháp kịp thời sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng thu hồi các khoản cho vay của ngân hàng. - Môi trường pháp lý – xã hội – chính trị: chính sách, quy định, luật lệ là những công cụ không thể thiếu để điều hành nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển công bằng, hiệu quả và bền vững. Hệ thống pháp luật của các nước đang phát triển thường được xây dựng dựa trên nhu cầu điều chỉnh của thực tế, nhưng đôi khi lại đi sau và kìm hãm sự phát triển.
Thực trạng hành lang pháp lý tại Việt Nam chưa đầy đủ và chồng chéo nhau, tách rời một cách thiếu khoa học của nhiều cơ quan quản lý khiến hệ thống các quy định nhiều khi mâu thuẫn gây khó khăn trong quá trình vận dụng. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lành mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận lợi. Ngược lại, nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất dễ bị lợi dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… Kinh tế xã hội kém ổn định dẫn đến kinh doanh gặp nhiều khó khăn, ngân hàng gặp rủi ro trong việc thu hồi nợ.