CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Có rất nhiều khái niệm về NHTM ở các nước khác nhau cũng như ở từng giai đoạn phát triển khác nhau của ngành ngân hàng trên thế giới. Nhà kinh tế học Peter S.
Rose định nghĩa NHTM như sau:” Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”[5]. Từ điển Bách Khoa Việt Nam cho rằng, NHTM là : “Tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và thanh toán” [12]. Thông qua những khái niệm trên cho thấy NHTM đóng vai trò là trung gian có khả năng thỏa mãn các nhu cầu về tiền tệ một cách tốt nhất cả về khối lượng, thời gian, địa điểm – qua đó đem lại lợi ích cho bản thân ngân hàng, cho người gửi tiền, cho người cần vốn nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay khi mà sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và sự phát triển kinh tế trên tất cả các lĩnh vực thì ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn để cung cấp vốn cho nền kinh tế, làm cầu nối của doanh ngiệp với thị trường, giúp nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, hay làm cầu nối cho nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng và hoạt động tín dụng - Tín dụng hay cho vay: là một nghiệp vụ cơ bản của NHTM trong đó NHTM (bên cho vay) thỏa thuận chuyển giao tài sản (tiền hoặc hiện vật) cho khách hàng (bên đi vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, khi đến hạn thanh toán, bên đi vay có trách nhiệm vô điều kiện trong hoàn trả gốc ban đầu và trả thêm phần lãi cho bên cho vay [7]. - Hoạt động tín dụng: là việc NHTM sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng một ngân khoản với nguyên tắc có hoàn trả thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ liên quan khác [7]. Rủi ro tín dụng Những năm gần đây, thị trường tài chính quốc tế phát triển mạnh mẽ cùng với sự đổi mới nhanh chóng của các công cụ tài chính đã cung cấp hàng loạt các phương tiện huy động vốn mới cho các trung gian tài chính, đồng thời cũng tạo ra cơ hội để các ngân hàng có thể đa dạng hóa các dịch vụ kinh doanh tiền tệ của mình.
Chính sự phát triển này làm cho các hoạt động đo lường, quản lý và kiểm soát rủi ro của ngân hàng ngày càng trở nên cấp thiết và phức tạp hơn. Vấn đề rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng cũng cần được nghiên cứu và xem xét đến trong mối tương quan với những thay đổi của thị trường tài chính và phương thức quản trị trung gian tài chính. Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng.
Có những quan niệm về rủi ro tín dụng như sau: 15 - Rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay. - Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. - Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời gian đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng.
Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. - Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn. - Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 24/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [8].
Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc và lãi như cam kết sẽ có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí là không được hoàn trả, và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bị tổn thương trong hoạt động của ngân hàng. Những biểu hiện của rủi ro tín dụng rất đa dạng và được biểu hiện như mô hình dưới đây: 16 Mô hình 1.1: Mô hình các biểu hiện của rủi ro tín dụng [7] RỦI RO TÍN DỤNG Không thu Không thu Không thu đủ Không thu đủ được lãi đúng được vốn đúng lãi vốn cho vay hạn hạn Phát sinh lãi Phát sinh nợ Phát sinh lãi Phát sinh nợ treo quá hạn treo đóng băng khó đòi Khả năng thanh toán giảm; Hiệu quả kinh doanh giảm; Thất thoát vốn; Phá sản 1. Các loại rủi ro tín dụng - Rủi ro đọng vốn: đó là rủi ro tín dụng khi người đi vay sai hẹn (default) trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do trễ hạn (Delayed payment).
- Rủi ro mất vốn: đó là rủi ro tín dụng khi người đi vay sai hẹn (default) trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do không thanh toán (Nonpayment) 1. Chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng 17 không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện được gia hạn nợ.
Tỷ lệ nợ quá hạn dùng để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng. Nếu chỉ số này cao thì nợ quá hạn lớn, xác suất rủi ro mất vốn lớn. Dư nợ quá hạn + Tỷ lệ nợ quá hạn = Tổng dư nợ Dư nợ xấu + Tỷ lệ nợ xấu = (Nợ xấu là nợ từ nhóm 3 tới nhóm 5) Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng. Theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu của các NHTM không được vượt quá 3%, nghĩa là trong 100 đồng vốn ngân hàng cho vay ra thì nợ xấu tối đa chỉ được phép là 3 đồng.
Số khách hàng có nợ xấu + Tỷ lệ khách hàng có nợ xấu = Tổng khách hàng có dư nợ Tỷ lệ khách hàng có nợ xấu nhỏ hơn tỷ lệ nợ xấu sẽ gây ra rủi ro tập trung tín dụng do tập trung vào một khách hàng quá nhiều, vì vậy các ngân hàng cần phải hạn chế. Dự phòng RRTD đã trích lập + Tỷ lệ dự phòng RRTD = Dư nợ cho kỳ báo cáo Mất vốn đã xóa cho kỳ báo cáo + Tỷ lệ mất vốn = Dư nợ trung bình cho kỳ báo cáo 18 Đối với các khoản nợ có khả năng mất vốn, ngân hàng phải sử dụng quỹ dự phòng bù đắp rủi ro để xử lý, đồng thời đưa khoản nợ này ra khỏi bảng tổng kết tài sản. Tỷ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng đối với ngân hàng càng lớn. + Các hệ số về khả năng bù đắp rủi ro: Dự phòng RRTD được trích lập - Hệ số khả năng bù đắp = các khoản cho vay bị mất Dư nợ bị thất thoát Dự phòng RRTD được trích lập - Hệ số khả năng bù đắp RRTD = Nợ quá hạn khó đòi Các hệ số này cho biết khả năng ngân hàng dự phòng đầy đủ hay không để bù đắp các khoản nợ bị thất thoát và các khoản nợ xấu, có nguy cơ rủi ro cao.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 1. Nguyên nhân khách quan (PESTIE) * Môi trường chính trị - pháp luật (Political Forces) Hoạt động tín dụng của ngân hàng phải dựa trên nền tảng pháp lý vững chắc, đầy đủ và chặt chẽ. Bởi vì, tín dụng ngân hàng dựa trên niềm tin rằng khách hàng sẽ trả cả vốn và lãi cho ngân hàng khi đến hạn. Ngày nay, niềm tin đó chỉ có được trên cơ sở sự bảo hộ của pháp luật.
Nếu Nhà nước xây dựng được một hệ thống pháp luật chặt chẽ, có hiệu lực thực thi sẽ tạo cơ sở lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp với nhau, trong đó có quan hệ giữa các doanh nghiệp với ngân hàng, do đó rủi ro tín dụng của ngân hàng sẽ giảm. Ngược lại, hệ thống pháp luật lỏng lẻo, kém hiệu lực là cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp xấu lừa đảo, chây ỳ trong quan hệ tín dụng với ngân hàng, làm tăng rủi ro tín dụng. Trong nhiều trường hợp, do hiệu lực 19 pháp luật kém, nhiều khách hàng tốt cũng có xu hướng lây lan sự chây ỳ, giảm trách nhiệm hoàn trả nợ cho ngân hàng, do đó rủi ro tín dụng cũng càng có xu hướng xảy ra nhiều hơn. * Môi trường kinh tế (Economic Forces) Môi trường kinh tế tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như các doanh nghiệp trong nền kinh tế.