Chương 1: Tổng quan nghiên cứu (2) Chương 2: Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện (3) Chương 3: Phương pháp nghiên cứu (4) Chương 4: Kết quả nghiên cứu (5) Chương 5: Khuyến nghị và chính sách CHUONG 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE CÁC NHÂN TO ANH HƯỚNG DEN QUYET ĐỊNH THAM GIA BẢO HIEM HƯU TRÍ TU NGUYEN 1. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định va quyết định tham gia bảo hiểm Có nhiều nghiên cứu nước ngoài sử dụng mô hình lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) như là một thước đo về phân tích các nhân tố tác động để nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định tham gia hoặc mua các sản phẩm, đặc biệt là các sản phâm về bảo hiểm. Nghiên cứu sinh sẽ nêu một số nghiên cứu điền hình: Dựa trên đữ liệu từ một cuộc khảo sát mẫu được thực hiện ở tỉnh Phúc Kiến vào năm 2006, bài báo của Lin và Zhu (2006) đã xem xét các yếu tố quyết định đến việc tham gia BHXH của dân số nổi của Trung Quốc, từ ba cấp độ bao gồm thành phố, doanh nghiệp và dân cư.
Kết quả chỉ ra rằng chính sách xã hội của các thành phố ảnh hưởng đáng kể đến việc tham gia BHXH của tầng lớp dân cư; đặc điểm của doanh nghiệp có tác động tương đối mơ hồ, không có tính thường xuyên rõ ràng đối với việc tham gia BHXH của nhóm dân cư. Ở một mức độ nhất định, đặc điểm cá nhân của nhóm dân cư có ảnh hưởng nhất định đến việc tham gia BHXH của họ, bao gồm Nhận thức về tính ASXH khi tham gia BHXH và Hiểu biết về BHXH, nhưng sự ôn định việc làm của họ không phải là yếu tố quyết định đáng kể. Cuối cùng, bài báo thảo luận về các hàm ý chính sách về BHXH cho người di cư, đồng thời nâng cao sự bảo vệ của Chính phủ đối với người dân và nâng cao kiểm soát các doanh nghiệp trong việc mua bảo hiểm cho người lao động. Chimedtseren va Safari (2016) nghiên cứu các yêu tô chất lượng dich vụ ảnh hưởng đến ý định tham gia BHNT thông qua mô hình SEM.
Với 215 mẫu khảo sát, kết quả đã chỉ ra rằng việc thiếu kỹ năng giải quyết van dé và tính hữu hình là vấn đề chính của chất lượng dịch vụ làm tăng sự hài lòng của khách hàng. Bên cạnh đó, sự đồng cảm và đảm bảo được cho là có ý nghĩa lên ý định tham gia BHNT, trong khi tính hữu hình, độ tin cậy, khả năng đáp ứng, giải quyết van đề và tính hữu ích lại không có tác động. Do đó, nghiên cứu cũng đưa ra giải pháp tập trung vào ý kiến của nhân viên trong ngành bảo hiểm để có thể nâng cao chất lượng dịch vụ một cách hiệu quả. Nghiên cứu của Nasir và cộng sự (2017) sử dụng lý thuyết phân tách về hành vi dự định dé xem xét các nhân tố tác động đến việc tham gia bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm Hồi giáo Takaful.
Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích nhân tố Thái độ, Chuan mực chủ quan, Khả năng kiểm soát hành vi và biến trung gian Trí tuệ tâm linh lên ý định tham gia. Đánh giá từ trong nghiên cứu cho thấy rằng việc tham gia BHNT hoặc bảo hiểm Hồi giáo Takaful có thé không chi bị ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và khả năng kiểm soát hành vi được nhận thức mà còn bởi hiểu biết về tài chính cùng với yếu tổ trí tuệ tâm linh. Hassan và Abbas (2020) cũng đã áp dụng lý thuyết hành vi dự định để điều tra khảo sát về các nhân tô tác động đến ý định tham gia bảo hiểm Hồi giáo Takaful ở Pakistan. Nghiên cứu với 345 khảo sát và áp dụng hồi quy cho thấy rang các yêu tố như lợi thế tương đối, khả năng tương thích, ảnh hưởng xã hội, nhận thức và tính tôn giáo có tác động đáng kể đến ý định hành vi tham gia loại hình bảo hiểm Hồi giáo Takaful.
Tác giả cũng đã đưa ra vấn đề thiếu nhận thức của người dân về dòng bảo hiểm Hồi giáo Takaful so với loại hình bảo hiểm thông thường khiến cho sản phẩm này chưa được ưa chuộng tại Pakistan, và đưa ra một số đề suất chính sách và kế hoạch nâng cao nhận thức cho người dân cũng như phát triển dòng sản phẩm này một cách sáng tạo hơn đề thu hút người tham gia. Nghiên cứu của Panigrahi va cộng sự (2020) nhằm điều tra mối quan hệ thực nghiệm giữa chất lượng dịch vụ, sự tin cậy, sự hài lòng và ý định của khách hàng mua sản phẩm BHNT ở Malaysia. Để đo lường sự hài lòng, sự tin tưởng và ý định mua hàng của khách hàng, bảy yêu tố SERVQUAL chính đã được sử dụng, đó là tính hữu hình, độ tin cậy, khả năng đáp ứng, sự đảm bảo, sự đồng cảm, sự hữu ích và khả năng giải quyết van đề. Kết quả phân tích cho thấy rằng sự hài lòng và sự tin tưởng của khách hang cùng với các yếu tố SERVQUAL dẫn đến ý định mua hàng.
Ngược lại, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các đại lý BHNT có kỹ năng giải quyết vấn đề và sự giúp đỡ sẽ làm tăng ý định mua các sản pham BHNT của khách hàng. Từ việc xác nhận các lý thuyết, rõ ràng là giải pháp cần phải đảm bảo rằng tất cả các chức năng chất lượng phải phù hợp với lợi thế cạnh tranh ngày càng tăng cùng với các mục tiêu của công ty BHNT. Nhăm nghiên cứu vai trò của các nhân tổ lên ý định mua sắm BHNT ở Băng La Dét, Nomi và Sabbir (2020) đã sử dụng lý thuyết hành động hợp lý dé lựa chon các nhân tố như: thái độ, chuẩn chủ quan, tôn giáo, động lực rủi ro, động lực tiết kiệm, hiểu biết tài chính dé xác định tác động của nó tới ý định mua sản phẩm BHNT tại đất nước đó. Bằng phương pháp mô hình SEM, nhân tố tôn giáo có kết quả ảnh hưởng ngược chiều với ý định mua sắm BHNT, trong khi các nhân tố khác có kết quả ảnh hưởng thuận chiều.
Từ đó, tác giả đưa ra giải pháp thông qua việc nâng cao nhận thức người dân, lan rộng chia sẻ kinh nghiệm sử dụng các sản phẩm từ người thân hoặc đây mạnh quảng cáo về sản pham BHNT của các doanh nghiệp bảo hiểm dé đây mạnh ý định tham gia BHNT. Bên cạnh đó, Masud và cộng sự (2020) đã lập nên khung lý thuyết về ý định mua BHNT theo hướng đánh giá toàn diện trong xu hướng phát triển bền vững tại Malaysia. Thông qua lý thuyết hành vi dự định và đánh giá toàn diện các nghiên cứu trước đây, tác giả đã đưa ra các nhân tố nhận thức, thái độ, chuẩn mực chủ quan, nhân thức hành vi, nhận thức về lợi ích tài chính, nhận thức về rủi ro để xem xét sự tác động của các nhân tố đó lên ý định tham gia BHNT của hộ gia đình. Khung khái niệm này nâng cao sự hiểu biết về cả tác động trực tiếp và gián tiếp, bao gồm cả tác động điều tiết và trung gian, đối với các khía cạnh thái độ và yếu tố nhân khâu học xã hội trong bối cảnh tham gia BHNT.
Bai báo nhân mạnh rang các biến thái độ có tác động trực tiếp đến ý định tham gia. Ngoài ra, nghiên cứu đi sâu vào mối liên hệ giữa các yếu tố thái độ (nhận thức, thái độ, chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, nhận thức lợi ích tài chính và nhận thức rủi ro) và ý định mua bao hiểm nhân thọ, đồng thời xem xét tác động điều tiết của các yếu tố nhân khẩu học. Dựa vào đó, đề xuất được đưa cho việc chủ động thực hiện các bước dé nâng cao nhận thức của người dân Malaysia, giúp họ hiểu rõ về những lợi ích tài chính của việc mua bảo hiêm nhân thọ. 10 Hasliza và cộng sự (2020) đã tìm hiểu các nhân tố tác động đến ý định tham gia sản phẩm bảo hiểm thông qua phỏng vấn khảo sát với 350 người ở Malaysia.
Sử dụng phương pháp mô hình PLS-SEM, kết quả nghiên cứu cho thấy sản phẩm có ảnh hưởng quan trọng nhất đến quyết định tham gia BHNT. Ảnh hưởng của thái độ được xác định như biến trung gian giữa các quảng cáo và ý định. nghiên cứu này chỉ ra rằng hỗn hợp tiếp thị quảng cáo, bao gồm sản phẩm, giá cả, địa điểm và khuyến mãi, có thé định hình thái độ của khách hang, từ đó ảnh hưởng đến ý định tham gia của họ. nghiên cứu đã đề xuất việc xây dựng một cách tỉ mỉ hỗn hợp tiếp thị của mình để thúc đây doanh số bán hàng.
Nursiana và cộng sự (2021) cũng đã tìm hiểu các yếu tố quan trọng như chất lượng sản phẩm, rủi ro sản phẩm, uy tin của công ty và chất lượng dich vụ và xem ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định mua bảo hiểm của khách hàng ở Indonesia. Áp dụng mô hình SEM, nghiên cứu cho thấy chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng tích cực và đáng kế đến danh tiếng của công ty và nhận thức về rủi ro. trong đó, chat lượng sản phâm danh tiếng của công ty, chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng tích cực và đáng kề đến ý định mua hàng. ngược lại, rủi ro được nhận thức có ảnh hưởng tiêu cực và đáng ké đến ý định mua hàng: nhưng lại có tác động tích cực và đáng ké đến chat lượng dich vụ và danh tiếng của công ty.
Mới đây, Poan và cộng sự (2022) đã phân tích các nhân tổ thái độ, tôn giáo, nhận thức và chuẩn mực chủ quan dé xem tác động của nó đến ý định tham gia bảo hiểm Hồi giáo ở Inđônesia, với niềm tin như một biến trung gian. Áp dụng mô hình SEM với số lượng 322 khảo sát, các tác giả chỉ ra rang niềm tin có tác động đáng kế đến ý định tham gia bảo hiểm, cũng như mối quan hệ giữa nhận thức, tôn giáo và chuẩn mực chủ quan lên niềm tin.