Chương 1 HÀNH TRÌNH PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA HOÀI THANH 1. Tiểu sử Hoài Thanh Hoài Thanh tên thật là Nguyễn Đức Nguyên, sinh ngày 15 tháng 07 năm 1909 tại quê nhà ở thôn Song Xuân, xã Cẩm Trường, nay là xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An- mảnh đất khắc nghiệt nhưng cũng là quê hương của nhiều bậc anh hùng hào kiệt, danh nhân văn hóa. Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, yêu nước, ngay từ thủa ấu thơ, ông đã ấp ủ lòng yêu quê hương đất nước, niềm say mê cái đẹp, cái nhân bản của văn chương nghệ thuật. Ông đặc biệt say mê ca dao, truyện Nôm khuyết danh, đặc biệt là Truyện Kiều.
Hoài Thanh bắt đầu học chữ Hán, sau đó ông chuyển sang học chữ Quốc ngữ và theo học trương Pháp- Việt, đỗ tú tài phần thứ nhất tại Hà Nội. Từ cuối năm 1926, ông tham gia Tân Việt cách mạng Đảng. Năm 1930, trong khi ông đang học trường Bưởi thì bị sở mật thám bắt, bị kết án sáu tháng tù treo và đuổi khỏi trường, bị trục xuất ra khỏi Bắc Kỳ và giải về quê. Trong hoàn cảnh ấy, người ta tưởng người thanh niên yêu nước ấy sẽ hoang mang, mất phương hướng, không tìm thấy lối thoát nhưng may thay văn chương lãng mạn ra đời, ông lao vào văn chương, coi đó là cách để chứng tỏ tấm lòng tha thiết với đất nước, với nòi giống.
Năm 1931, ông vào Huế làm nghề sửa bản in, đi dạy học tư và tham gia viết báo. Hoài Thanh viết báo từ những năm ba mươi trên các tờ Phổ thông, Dân chúng, Gadetde Huế, Tràng An…Trong những năm từ 1935 đến 1939, ông cùng một số tên tuổi thuộc phái vị nghệ thuật đã tranh luận về quan điểm nghệ thuật với trường phái vị nhân sinh. Năm 1939, ông viết cuốn Văn chương và hành động nhưng bị thực dân Pháp cấm lưu hành. Từ đó, ông chuyển sang dạy c 18 học ở trường Phú Xuân, Thuận Hóa (Huế).
Vào những năm từ 1941 đến 1944, ông vừa viết báo vừ nghiên cứu và hoàn thành cuốn sách mà sau này đã làm nên tên tuổi ông - Thi nhân Việt Nam. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Hoài Thanh như nhiều nhà văn khác hào hứng đi theo cách mạng. Ông tham gia tổng khởi nghĩa ở Huế, tham gia kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc và trải qua nhiều chức vụ khác nhau về văn hóa, văn nghệ như Ủy viên ban thường vụ Hội văn nghệ Việt Nam, giám đốc vụ văn học nghệ thuật- Bộ Giáo Dục, trưởng tiểu ban văn nghệ thuộc Nha thông tin tuyên truyền. Sau đó, ông lần lượt tham gia giảng dạy tại trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội, Đài tiếng nói Việt Nam, Hội văn hóa Việt Nam, Hội văn nghệ Việt Nam.
Ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 31 tháng 07 năm 1947. Sau kháng chiến chống Pháp, ông làm vụ trưởng Vụ nghệ thuật, tổng thư kí Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, viện phó viện Văn học và chủ nhiệm tuần báo Văn nghệ cho đến đầu năm 1975. Hoài Thanh mất ngày 14 tháng 03 năm 1982 tại Hà Nội. Tháng 01 năm 2000, ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Giải thưởng danh giá đó đã thể hiện sự đánh giá cao những đóng góp của ông trong sự nghiệp lý luận- phê bình qua những tác phẩm của ông để lại cho đời. Các chặng đường nghiên cứu phê bình văn học của Hoài Thanh Sự nghiệp của Hoài Thanh được ghi dấu trên nhiều thể loại: bút kí, tiểu luận, phê bình…Nhưng nhắc đến Hoài Thanh, người ta nghĩ ngay đến một cây bút phê bình văn học xuất sắc và tài hoa. Trong gần nửa thế kỉ cầm bút, Hoài Thanh ông say mê nghiên cứu văn học cổ điển, ông không ngừng tìm lí do để người đọc thêm yêu quý di sản văn học quá khứ cha ông đặc biệt là Truyện Kiều của Nguyễn Du, ông nhiệt tình ủng hộ thơ ca kháng chiến trong Nói c 19 chuyện thơ, giới thiệu thơ Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu…và làm nên tên tuổi của ông không thể không nhắc đến “khúc tuyệt xướng”- Thi nhân Việt Nam….Nhìn một cách tổng quát sự nghiệp của ông nằm trọn trong hai giai đoạn quan trọng của lịch sử văn học Việt Nam: Giai đoạn 1930- 1945 với sự “hình thành trọn vẹn và rực rỡ của văn học hiện đại” và giai đoạn 1945- 1975 với sự “xác lập của văn học cách mạng theo ý thức hệ vô sản”, “trong sự nghiệp kháng chiến xây dựng quốc gia độc lập” [37,tr.384] và ở giai đoạn nào ông cũng có những thành tựu nổi bật, đặc biệt là vận dụng những phương pháp phê bình mới. Trước cách mạng tháng Tám 1945 Trước cách mạng, Hoài Thanh chủ yếu viết cho các báo Tiểu thuyết thứ bảy, Tao đàn, Hà Nội báo, Tràng An…Nổi bật nhất là các bài báo trong cuộc tranh luận với trường phái nghệ thuật vị nhân sinh như: Tìm cái Đẹp trong tự nhiên là văn chương, tìm cái Đẹp trong nghệ thuật là phê bình; Cần phải có một thứ văn chương mạnh mẽ hơn; Văn chương là văn chương….
Nhưng tên tuổi của Hoài Thanh sống mãi trong lòng người đọc, vượt qua thử thách khắc nghiệt của thời gian phải đến khi Thi nhân Việt Nam ra đời. Cuốn sách viết cùng với Hoài Chân, được người đời ca tụng là “khúc tuyệt xướng” của thơ mới, là “công trình thế kỉ”. Qua những gì Hoài Thanh viết, người đọc nhận thấy ông đã xác định được một phương pháp nghiên cứu văn học nhất quán. Trong cuộc tranh luận với trường phái nghệ thuật vị nhân sinh, Hoài Thanh đã trình bày những quan điểm điểm của ông về văn học và phương pháp phê bình văn học.
Trong đó phương thức tiếp cận cơ bản của ông là đi từ cái Đẹp - yếu tố quan trọng làm nên bản chất nghệ thuật. Về quan điểm văn học, trong cuộc tranh luận này Hoài Thanh đã đề cập đến nhiều vấn đề cơ bản nhất của văn học nghệ thuật như nghệ thuật là gì?, mối quan hệ của nghệ thuật với đời sống, về quy luật phát triển của văn học, về nội dung và hình thức của văn học….Trong đó, ông đã nhấn mạnh đến đặc trưng c 20 bản chất của văn học là ‘đẹp” và “sáng tạo” của cá nhân chủ thể; nghệ thuật nằm ngay trong việc thực hiện chức năng tối cao của nó: thỏa mãn việc tìm tòi, thể hiện và hưởng thụ cái đẹp. Khi đề cao cái đẹp, Hoài Thanh đã hoàn toàn tách rời, cắt đứt văn chương khỏi cội nguồn sinh thành và tồn tại của nó là đời sống, giữ văn chương trong “tháp ngà” nghệ thuật, coi văn chương là thú vui nhàn tản, tao nhã, đứng ngoài hoặc đứng trên hiện thực xã hội. Tuy nhiên, qua những phát biểu đó, dù chưa hoàn toàn đầy đủ, người đọc nhận thấy, ông đã ý thức sâu sắc một số yêu cầu bản chất, đặc trưng của nghệ thuật bên cạnh những hình thức khác.
Điều thú vị là khi trình bày những quan điểm nghệ thuật, Hoài Thanh cũng đồng thời đề xuất phương pháp tiếp nhận văn chương của mình. Trên cơ sở quan điểm đề cao cái đẹp như đã nêu “trong khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, cố nhiên phải để nghệ thuật lên trên, cố nhiên phải chú ý đến cái đẹp trước khi chú ý đến những tính cách phụ, những hình thức tạm thời của nó”[29. Hoài Thanh không đồng tình với cách phê bình theo ông là “non yếu” “dễ dàng” của một số nhà phê bình đương thời. Đó là “họ thay bằng những câu văn tình tự và có duyên của tác giả bằng những câu văn sống sượng và khô khan của họ” , “bắt chước lối giảng quốc văn ở trường như bây giờ”, “Họ chịu khó kể lại những câu chuyện một cách tỉ mỉ”, “họ chỉ thêm vài câu thẩm bình nữa là xong, cái cách học phẩm bình cũng dễ”, “họ khen tác giả có tài tả cảnh”, “đến tả tình cũng vậy, cứ mỗi câu khen hay là trích một đoạn”[29,tr.52-53]… và ông đi đến khẳng định: phê bình cần sự nhạy bén, tinh tế của nhà phê bình trước cái hay, cái đẹp của văn chương “cần phải nhận thấy cái đặc sắc của đoạn văn, cần nói rõ đoạn văn ấy hay cách nào, cần phải để ý những điều phần đông độc giả xem qua không để ý đến”[29,tr.
Không dừng lại ở đó, Hoài Thanh còn nhấn mạnh, đề cao tính độc đáo, sáng tạo của phê bình văn chương “Phê bình một quyển sách phải nói cho đúng c 21 đã đành mà lại cần phải cho nó hay nữa, làm thế nào cho câu nói của mình đặc sắc. Đối với một quyển sách mình có ý kiến gì là lạ, mới nên hạ bút phê bình, không thì thôi” [29,tr. Và ông đề xuất phương pháp phê bình trong đó nhà văn ngoài tâm hồn nhạy cảm, biết thưởng thức cái hay, cái đẹp của văn chương như đã nêu, còn cần sự khách quan cũng như cần những rung động chân thật nhất “Trước nhất phải quên hết mọi thành kiến, phải đọc một cách tự nhiên, phải để tâm trí mình rung động một cách tự nhiên. Xem văn như thế mới mong cảm thấy được cái hay.
Lúc đầu không nên tìm nguyên nhân vì sao lại hay; có ý tìm, mối cảm hoặc lạt đi, hoặc không thực” [29,tr.27] Như vậy, những phát biểu của Hoài Thanh nêu trên đã khẳng định ông chủ trương tiếp cận văn chương bằng phương pháp phê bình trực giác. Phương pháp này “dùng cảm giác và tin vào cảm giác để nhận thức và đánh giá hiện tượng văn học” [4,tr.165], trong đó nhà phê bình với năng lực cảm thụ văn học một cách đặc biệt, với vốn kinh nghiệm thưởng thức văn học phong phú, với trường liên tưởng mạnh mẽ .đã ghi lại những ấn tượng sâu đậm, đặc trưng nhất để đánh giá một hiện tượng văn chương. Ấn tượng đó xuất phát từ sự đồng cảm, đồng điệu với nhà văn và tác phẩm và được trình bày bằng lời văn uyển chuyển, linh hoạt, giàu hình ảnh. Cuộc tranh luận ồn ào trên báo chí, tốn bao nhiêu giấy mực đã ghi dấu tên tuổi của Hoài Thanh trên văn đàn như một chủ soái cho chủ thuyết “văn chương là văn chương”, đấu tranh cho thứ nghệ thuật vị nghệ thuật.
Nhưng tên tuổi của Hoài Thanh sống mãi trong lòng người đọc, vượt qua thử thách khắc nghiệt của thời gian phải đến khi Thi nhân Việt Nam ra đời. Cuốn sách viết cùng với Hoài Chân, được người đời ca tụng là “khúc tuyệt xướng” của thơ mới.