CHƯƠNG I HIỆN TRẠNG GIAO THÔNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN 1. Tổng quan về Thành Phố Hồ Chí Minh 1. Vị trí địa lý:[5] Hình 1.HCM với tổng diện tích là 2,095 km², ở vị trí 10o10’-10o38’ Bắc và 106o02’- 106o54’ Đông; nằm ở trung tâm Nam Bộ, Bắc giáp Bình Dương, Tây Bắc giáp Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp Đồng Nai, Đông Nam giáp Bà Rịa Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp Long An, Tiền Giang, Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ biển là 15km; là trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học lớn nhất ở khu vực phía Nam. Đây cũng là một đầu mối giao thông lớn nhất cả nước, là cửa ngõ của thế giới với tất cả các loại hình vận tải: đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biể không.
Dân số, việc làm:[7] Dân số: TP.HCM có 18 quận nội thành, gồm các quận 1 đến quận 12, Gò Vấp, Tân Bình, Bình Thạnh, Thủ Đức, Tân Phú, Bình Thạnh và 5 huyện ngoại thành, bao gồm huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. Theo số liệu thống kê năm 2009, dân số TP.340 người và mật 3.400 người/km². Mức tăng dân số từ năm 1999 đến năm 2004 là 3,97%, từ năm 2005 đến năm 2009 là 2,96%. Lý do mức tăng dân số thành phố tăng nhanh là do dân nhập cư từ các tỉnh khác về đây học tập và làm việc.
Điều này gây nhiều áp lực lên quá trình phát triển kinh tế xã hội của thành phố đặc biệt là hệ thống giao thông. Dân số, mật độ dân số các quận, huyện thuộc TP.HCM[5] Diện tích Mật độ Quận, huyện Phường – xã (km ) Dân số (người) (người/km2) 2 Cả thành phố 322 2095,01 7.4 Quận nội thành 259 494,01 5.137 Quận Tân Bình 15 22,38 412.445 Quận Tân Phú 11 16,06 397.759 Quận Bình Thạnh 20 20,76 451.75 Quận Phú Nhuận 15 4,88 174.758 Quận Thủ Đức 12 47,76 442.257 6 Quận Bình Tân 10 51,89 572.039 Huyện ngoại thành 63 1601 1.353 800 Huyện Củ Chi 21 434,5 343.195 Huyện Bình Chánh 16 252,69 421.67 Huyện Nhà Bè 7 100,41 99.172 988 Huyện Cần Giờ 7 704,22 68.213 97 Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10, 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², các quận 2, 9, 12 chỉ khoảng từ 2.000 người/km². Ở các huyện ngoại thành, mật độ dân số rất thấp, như Cần Giờ chưa tới 100 người/km². Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 1,9% (số liệu 2006).
Theo ước tính năm 2010, có khỏang 2 triệu dân nhập cư và khách vãn lai đang sinh sống, học tập và làm việc tại TP. Việc làm: Tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động ở TP.HCM rất cao và chiếm tới 65% (ở Hà Nội là 57%). Lý do cho điều này là do thành phố có nhiều dân nhập cư và đa số ở độ tuổi lao động. Phân bố việc làm theo ngành nghề khác nhau[5] 2005 2010 Người (%) Người (%) Tổng cộng 2.000 100,00 Phân loại theo thành phần kinh tế 1.
Có vốn đầu tư nước ngòai 179.952 10,30 Phân loại theo ngành nghề 1.000 50,09 Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển thành phố 7 1. Kinh tế - Văn hóa:[7] Về kinh tế: TP.HCM là trung tâm kinh tế, công nghiệp của cả nước, chiếm hơn 50% tổng giá trị sản phẩm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và 22-30% tổng giá trị sản phẩm quốc gia, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trung bình trên 11% trong suốt hai thập kỷ vừa qua.HCM thực sự là trung tâm kinh tế, là đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế của Việt Nam và toàn bộ bán đảo Đông Dương, đóng góp một tỷ lệ lớn cho ngân sách quốc gia. Trong năm 2010, tổng xuất khẩu đạt 37,06 tỷ USD, tăng 11,1%, tổng đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội đạt 173,49 ngàn tỷ đồng, tăng 20,8 so với năm 2009. Mặc dù do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế TP bình quân 5 năm gần đây chỉ đạt 11%, thấp hơn chỉ tiêu đề ra (12% trở lên), nhưng là mức tăng cao so với bối cảnh chung.
Quy mô kinh tế thành phố đến năm 2010 bằng 1,7 lần năm 2005, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 2.823 USD trong khi cả nước chỉ đạt 1. Tăng trưởng kinh tế hàng năm tại TP.HCM và toàn quốc TP.HCM Cả nước Năm GDP trên đầu Mức tăng GDP trên đầu Mức tăng người (USD) GDP (%) người (USD) GDP (%) 2007 2.168 6,78 Nguồn: Tổng cục Thống kê [8] Mặc dù TP.HCM có thu nhập bình quân đầu người rất cao so với mức bình quân của cả Việt Nam, nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày các lớn do những tác động của nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, kinh tế phát triển đã kéo theo nhu cầu về vận tải (hàng hóa và hành khách) và số lượng phương tiện tăng nhanh, tạo áp lực lên kết cấu hạ tầng giao thông đô thị. Văn hóa: Với vị trí địa lý thuận lợi, TP.HCM nơi một thời được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" không những là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc thái văn hoá riêng góp phần tạo nên một nền văn hoá đa dạng.
Đặc trưng văn hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài 8 hòa giữa truyền thống dân tộc với những nét văn hoá phương Đông, phương Tây, giữa nhiều vùng miền trong cả nước. Với vai trò đầu tàu trong đa giác chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, TP.HCM đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá - du lịch, giáo dục - khoa học kỹ thuật - y tế lớn bậc nhất của cả nước (nguồn: http://www. Tuy nhiên, văn hóa giao thông của người dân thành phố vẫn còn nhiều vấn đề chấn chỉnh, đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình UTGT trong những năm qua. Hiện trạng quan hệ phát triển kinh tế và an toàn giao thông 1.
Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và thương mại:[7] Trong 3 khu vực của nền kinh tế, năm 2010 khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng cao nhất, tăng 12,2% và chiếm tỷ trọng 53,96% GDP của thành phố, trong khi đó ngành nông, lâm, thủy sản tăng trưởng 10,5% chỉ chiếm tỷ trọng 1,23% và nghành công nghiệp-xây dựng tăng trưởng 11,1% chiếm tỷ trọng 44,8%. Bốn ngành dịch vụ tài chính-ngân hàng, du lịch, bưu chính-viễn thông, vận tải-dịch vụ cảng-kho bãi có tốc độ tăng trưởng cao, cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố đang đi đúng hướng nhằm gia tăng tỷ trọng của các nhóm ngành dịch vụ, phát huy tiềm năng thế mạnh của trung tâm tài chính, dịch vụ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đặc biệt là tận dụng cơ hội phát triển các lĩnh vực này trong những năm đầu Việt Nam gia nhập WTO. Về thương mại: TP.HCM có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ đa dạng. Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng.
Những năm gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza, Vincom, Pakson. và đa số đều năm trong khu vực trung tâm thành phố. Mức tiêu thụ của TP.HCM cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội. Tổng sản phẩm trong nước theo ngành nghề Theo quy hoạch phát triển đến năm 2020, TP.HCM sẽ có 22 KCX-KCN với tổng diện tích khoảng 5.
Hiện nay, TP.HCM đang có 3 KCX và 12 KCN với tổng diện tích là 3. Hầu hết các khu này đều có tỷ lệ đất cho thuê từ đất 60% - 100% trên tổng diện tích đất cho thuê.H , gây đã và triển khai di dời ra khỏi khu dân cư từ năm 2003. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa di dời xong. Các KCN-KCX hầu hết không đầu tư cho hệ thống hạ tầng xã hội cho công nhân làm việc (nhà ở, nơi sinh họat, chợ…) mà giao phó cho chính quyền địa phương và bản thân người công nhân, do đó đã phát sinh nhiều bất cập trong quản lý xã hội và giao thông đô thị.
Ở ệc phát triển các KCN-KCX cũng đang được chính quyền nơi đây đầu tư mạnh mẽ, ở KCN QL TP.HCM KCN và t ể KCN TP. ều khu đô thị mới, khu công nghiệp đang được mọc lên và nằm xen kẽ .HCM KCN QL KCN KCN KCN. Sự phát triển không gian đô thị và các mối quan hệ vận tải[7] 11 Nhận xét: Bên cạnh những bước tiến quan trọng đạt được, TP.HCM hiện cũng đang đối mặt với những khiếm khuyết trong phát triển kinh tế-xã hội. Sự chênh lệch giữa các thành phần dân cư (đặc biệt là giữa nội thành và ngoại thành) về thu nhập, mức sống và về trình độ dân trí ngày càng gia tăng.
Việc thành phố trở thành siêu đô thị với sự tập trung quá mức dân cư, cơ sở kinh tế, làm tăng nguy cơ phá vỡ cân bằng sinh thái. Ngoài ra, mức độ tập trung công nghiệp của thành phố hiện rất cao và nhanh chóng. Các khu công nghiệp tập trung hình thành rất nhanh trong một thời gian ngắn nên đã thu hút một tỷ lệ lớn lao động rẻ, kỹ thuật thấp (khoảng 70%) từ nơi khác đến. Điều này đã tạo ra hiện tượng di dân cơ học với số lượng lớn từ các địa phương khác mà chủ yếu là từ nông thôn vào TP.
Thành phố đang bộc lộ sự mất cân đối về nhà ở, điện, nước, hạ tầng giao thông, xã hội. Các KCN tập trung mới hình thành cùng với quá trình đô thị hóa vùng ven đã góp phần làm tăng nhanh di chuyển lao động giữa nội thành và ngoại thành, giữa TP.HCM với các tỉnh lân cận gây ách tắc giao thông trong giờ cao điểm, nhất là tại các cửa ngõ ra vào thành phố. Hiện trạng về giao thông đường bộ:[6] Mạng lưới giao thông đường bộ thành phố bao gồm các trục quốc lộ do Trung ương quản lý và các đường tỉnh, đường liên tỉnh, đường nội bộ do thành phố quản lý. Tổng chiều dài đường các cấp hạng khoảng 3.265km, trong đó: - Nội thành cũ: 825,3 km; - 6 quận mới: 754,5 km; - Ngoại thành: 1.
Đất dành cho giao thông rất thấp lại không đều trên địa bàn toàn thành phố. Ở các quận thuộc nội thành cũ Sài Gòn – Chợ lớn cũ như quận 1, quận 3, quận 5 diện tích đất dàng cho giao thông trên diện tích đất đô thị đạt khoảng 17,4-21,4%, song cũng chỉ đạt 0,31km/1000 dân do mật độ dân số quá cao.