CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thế giới Từ thế kỷ 17 quy hoạch lâm nông nghiệp được xem như là một chuyên ngành bắt đầu bằng các quy hoạch vùng. Theo Olschowy [80, tr.37- 44] vào thời gian này quy hoạch quản lý rừng và lâm sinh ở Châu Âu được xem như là một lĩnh vực phát triển ở mức cao trên cơ sở QHSD đất. Từ thế kỷ 18, loài người đã bắt đầu nghiên cứu về đất.
Kết quả của những công trình nghiên cứu về phân loại, xây dựng bản đồ và quản lý đất đai làm cơ sở quan trọng cho việc quản lý và sử dụng đất đai, tăng năng suất trong sản xuất nông lâm nghiệp. Vào thế kỷ 18, theo Behrens [84,tr.80] thì “Lý thuyết về khu nông nghiệp” của Johan H. Thuenen đưa ra năm 1826 đã đánh dấu mốc lịch sử về lợi dụng canh tác nông nghiệp của các diện tích đất đai tại Đức. Lý thuyết này chỉ chú ý đến các yếu tố kinh tế xã hội cho quy hoạch sản xuất nông nghiệp.
Ông cho rằng khoảng cách giữa khu sản xuất và nơi tiêu thụ sản phẩm là một tham số kinh tế, các khu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi cần được quy hoạch xung quanh trung tâm tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, hình thành “Vành đai Thuenen” là cơ sở cho quy hoạch sản xuất lâm nông nghiệp. Công trình nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất đã được quan tâm từ thế kỷ thứ 19. Các công trình nghiên cứu trên lĩnh vực này liên tục phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng.
Công trình này đã đạt những thành tựu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất, được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả. Mô hình sử dụng đất đầu tiên trên thế giới là du canh, chính là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong một thời gian bỏ hoá [Conklin, (1957)]. Du canh được xem là phương thức canh tác cổ xưa nhất nó ra đời vào cuối thời kỳ đồ đá mỗi khi con người đã tích luỹ được những kiến thức 5 ban đầu về tự nhiên. Loài người đã vượt qua thời kỳ này bằng cuộc cánh mạng về kỹ thuật và trồng trọt.
Mặc dù hạn chế nhiều mặt về môi trường sinh thái, song phương thức này vẫn được sử dụng khá phổ biến ở các vùng nhiệt đới. Về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, du canh không được nhiều chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng bởi vì du canh được coi như là sự phí phạm về sức người, tài nguyên đất đai, là nguyên nhân chính gây ra xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá xảy ra nghiêm trọng. Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “Phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất” [77,tr.
Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất. Từ năm 1967 Hội đồng nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất. Các hội nghị này khẳng định rằng quy hoạch vùng nông thôn trong đó quy hoạch các ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến nhỏ. cũng như quy hoạch cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai.
Năm 1971 và 1975 các chuyên gia tư vấn họp tại Rome (Italia) và Geneve (Thụy Sỹ) để thảo luận về phương pháp luận quy hoạch nông thôn. Nội dung các cuộc thảo luận đã đề cập đến các phương pháp cùng tham gia trong quy hoạch cấp vĩ mô. Năm 1985 một nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế về quy hoạch sử dụng đất được tổ chức FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình quy hoạch sử dụng đất. Theo Purnell năm 1988, mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất đựợc các chuyên gia xác định là “Thiết lập các kế hoạch thực tiễn có khả năng sử dụng tốt nhất các loại đất đai nhằm đạt được các mục tiêu khác nhau để tăng sản xuất quốc gia, cải thiện đời sống, bảo vệ môi trường, đạt các lợi ích xã hội và giải trí”.
Bốn câu hỏi nền tảng 6 của quy hoạch đất đai là [81, tr.9-12]: Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu quy hoạch là gì? Có các phương án sử dụng đất nào? Phương án nào là tốt nhất? Có thể vận dụng vào thực tế như thế nào?. Wilkingson năm 1985 nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất theo khía cạnh luật pháp. Ông đề nghị “Một hệ thống luật pháp thích hợp cần được phát triển nhằm mục đích: cung cấp chính sách và mục tiêu rõ ràng của Nhà nước về đất đai, thiết lập các tổ chức sử dụng đất phù hợp, yêu cầu sử dụng theo quy trình kế hoạch và kỹ thuật, tăng cường sự thông hiểu về sử dụng đất và khuyến khích xây dựng cơ chế giám sát và cưỡng chế” [82, tr. Dent và nhiều tác giả nghiên cứu sâu về quy trình quy hoạch vào năm 1988.
Ông khái quát quy hoạch sử dụng đất trên 3 cấp khác nhau và mối quan hệ của các cấp: kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp vùng (tỉnh, huyện) cấp cộng đồng (xã, thôn) [72, tr. Ông còn đề xuất quá trình quy hoạch gồm 4 giai đoạn và 10 bước. Năm 1976, trong khi xây dựng khung đánh giá đất đai, lần đầu tiên tổ chức FAO đã đề xuất cấu trúc khung quy hoạch sử dụng đất với 10 điểm chính [73, tr. Trong đó phân loại đánh giá và đề xuất các kiểu và dạng sử dụng đất được xét như là các bước chính trong quá trình quy hoạch.
Vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và công bố kết quả. Tại cuộc Hội thảo giữa Trường đại học lâm nghiệp Việt Nam và Trường tổng hợp kỹ thuật Dresden, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được Holm Uibrig đề cập khá đầy đủ và toàn diện [83]. Tài liệu đã phân tích một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn đề phát triển nông thôn, quy hoạch sử dụng đất, phân cấp hạng đất và phương pháp tiếp cận mới trong quy hoạch sử dụng đất. Một vài kết luận rút ra từ kinh nghiệm của thế giới Từ các tài liệu nghiên cứu trên , đề tài đưa ra một số kết luận như sau: 7 - Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã phải lấy quy hoạch sử dụng đất làm nền tảng, kết hợp hài hoà giữa ưu tiên của cấp trên với nhu cầu của cộng đồng thông qua sự tham gia trực tiếp của người dân.
- Phân tích được mối quan hệ tác động lẫn nhau của các cấp quy hoạch lâm nông nghiệp, đặc biệt là cấp địa phương: xã, thôn bản và hộ gia đình để xác định rõ nội dung và phương pháp quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng có tính đặc thù riêng của mỗi cấp. - Các phương pháp đánh giá đất đai của FAO, quy trình lập kế hoạch sử dụng đất cần được áp dụng trong quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã, nhưng nên điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh của cộng đồng nông thôn Việt Nam. - Phương pháp cùng tham gia, phân tích hệ thống canh tác được coi là công cụ quy hoạch cấp xã cần được vận dụng vào đặc điểm kinh tế văn hoá xã hội và thể chế chính sách của Việt Nam. Việt Nam Từ thế kỷ 15, những hiểu biết về kinh nghiệm sử dụng đất đã được chú ý và tổng hợp thành tài liệu.
Trong “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quý Đôn đã khuyên nông dân áp dụng luân canh lúa với cây họ đậu để tăng năng suất lúa. Trong thời kỳ pháp thuộc các công trình nghiên cứu đánh giá và QHSDĐ đai đã được các nhà khoa học Pháp nghiên cứu. Trong giai đoạn 1955 - 1975, công tác điều tra phân loại đã được tổng hợp một cách có hệ thống trong phạm vi toàn miền Bắc. Nhưng phải đến sau năm 1975 các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất.
Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994…). Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu biện pháp đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất, công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng đất. 8 Về quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp, Đảng và Nhà nước ta có quan điểm rất rõ ràng. Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.
Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Luật Đất đai năm 2003 tại điều 13 quy định rõ có 3 loại đất chính, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng với 6 quyền sử dụng tuỳ theo từng loại đất và mục đích sử dụng mà được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng. Luật Đất đai nêu rõ trong mục 2 quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại điều 23 là lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai là một trong những nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai [18]. Luật Đất đai là cơ sở pháp lý cơ bản nhất cho quy hoạch nông lâm nghiệp.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng làm cơ sở cho quy hoạch lâm nghiệp [19]. Theo biên bản hội thảo quốc gia về “Quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp” năm 1997 nhiều ý kiến cho rằng cần nghiên cứu tính thống nhất giữa 2 luật: Luật đất đai và Luật bảo vệ và phát triển rừng trong quy hoạch và giao đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp, xác định rõ vai trò của địa phương, đặc biệt là cấp xã trong quy hoạch và giao đất giao rừng [2].