CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. An toàn giao thông ở Việt Nam 1.Điều kiện đường ở Việt Nam Những năm qua, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ được đầu tư khá đồng bộ, có những bước phát triển mạnh theo hướng hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các công trình có tính kết nối, lan tỏa, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Chất lượng vận tải đường bộ ngày một nâng cao, bước đầu góp phần thực hiện mục tiêu GTVT đi trước một bước trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh và bảo vệ Tổ quốc. Theo Bộ GTVT, hệ thống đường bộ hiện nay bao phủ khắp lãnh thổ và đóng vai trò trục chính kết nối mạng lưới giữa các vùng, miền, các cảng hàng không, cảng biển, cửa khẩu, đầu mối giao thông quan trọng.
Hệ thống đường bộ Việt Nam có tổng chiều dài 570.448 km, trong đó quốc lộ là 24.136 km, đường cao tốc là 816 km, đường tỉnh là 25.741km, đường huyện là 58.347km, đường đô thị là 26.953km, đường xã là 144.670km, đường thôn xóm là 181.188km và đường nội đồng là 108. Hệ thống quốc lộ hình thành nên các tuyến hành lang Bắc - Nam, vùng duyên hải và cao nguyên, các tuyến đường Đông - Tây dọc theo miền Trung Việt Nam. Ở phía Bắc, các tuyến quốc lộ tạo thành hình mạng lưới nan quạt với tâm là Thủ đô Hà Nội. Ở phía Nam, các tuyến quốc lộ tạo nên hình lưới… Cũng theo Bộ GTVT, hiện đã đưa vào khai thác là 816km đường cao tốc, tăng trên 4,8 lần.
Hiện tại, Bộ GTVT đang chỉ đạo quyết liệt để khởi công dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông để phấn đấu cơ bản hoàn thành vào năm 2021. Nhờ việc đầu tư đồng bộ, trọng tâm trọng điểm mà sản lượng vận tải do đường bộ luôn tăng cao. Tính đến hết tháng 11/2019, sản lượng vận tải cả nước đạt hơn 1,4 tỷ tấn hàng, tăng 8,8%; đạt hơn 4,34 tỷ lượt hành khách, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2018 [1]. Tình hình giao thông ở Việt Nam Ngày nay, tai nạn giao thông đặc biệt là tai nạn giao thông đường bộ đã trở thành thảm họa cho con người.
Một trong những nguyên nhân lớn làm gia tăng số vụ tai nạn là do các điều kiện đường gây bất lợi cho chuyển động của dòng xe. Sự phát triển của nền kinh tế đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng quá trình cơ giới 1 hóa ở một số khu vực thành thị lớn (dựa vào số lượng các loại xe cơ giới). Vấn đề nảy sinh trong bối cảnh này đó là số lượng tai nạn giao thông tăng một cách báo động, kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội. Theo số liệu thống kê của Cục cảnh sát giao thông đường bộ-đường sắt về tai nạn giao thông đường bộ (do nhiều nguyên nhân khác nhau) trong thời gian qua: Hình 1.
1 Thống kê các vụ tai nạn ở Việt Nam năm 2015 và 2015 Theo thống kê của Cục Cảnh sát giao thông năm 2015 cả nước xảy ra 22.827 vụ, làm chết 8.727 người, bị thương 21. So với năm 2014, giảm 2.794 người bị thương (- 15,26%). Trong đó: - Đường bộ: Xảy ra 22.326 vụ, làm chết 8.435 người, bị thương 20. So với năm 2014, giảm 2.822 người bị thương (- 15,51%).
- Đường sắt: Xảy ra 405 vụ, làm chết 218 người, bị thương 239 người. So với năm 2014, tăng 64 vụ (18,77%), tăng 38 người chết (21,11%), tăng 23 người bị thương (10,65%). - Đường thủy: Xảy ra 96 vụ, làm chết 74 người, bị thương 15 người. So với năm 2014, tăng 06 vụ (6,67%), tăng 08 người chết (12,12%), tăng 05 người bị thương (50%).
[2] Thống kê tỉ lệ phương tiện tham gia giao thông gây tai nạn: 2 Hình 1. 2 Các phương tiện gây ra tai nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam Kết cấu hạ tầng giao thông hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của phương tiện giao thông và các loại hình giao thông vận tải hiện nay do đó thường xảy ra cac tai nạn trên các loại đường khác nhau. 3 Tỉ lệ tai nạn giao thông trên các loại đường bộ tại Việt Nam Hình 1. 4 Các nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam Có nhiều nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông.
Trong đó nguyên nhân chủ quan do con người chiếm một tỷ trọng lớn (chiếm khoảng 80% tổng số vụ tai nạn 3 giao thông). Điều này thể hiện ở ý thức và khả năng điều khiển phương tiện của người tham gia giao thông. Ví dụ theo số liệu thống kê, phân tích tổng số các vụ TNGT xảy ra trong năm 2015 của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia cung cấp ta có bảng thống kê về nguyên nhân chính của tai nạn giao thông đường bộ cho thấy các lỗi vi phạm TTATGT chủ yếu dẫn đến TNGT là: đi không đúng làn đường, phần đường quy định chiếm tỉ lệ cao (26%), chạy quá tốc độ (9%), chuyển hướng không đúng quy định (9%), ngoài ra các lỗi không nhường đường, vượt xe, sử dụng rượu bia chiếm tỉ lệ đáng kể. Ổn định chuyển động của xe 1.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển động Hình 1. 5 Các yếu tố ảnh hưởng Khi xe đi trên đường có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng như: ngoại lực, đường, người lái, tải trọng của xe. + Tác động của đường: gồm có liên kết lốp đường được thể hiện theo hệ số bám ϕ X , biên dạng đường ξij và hành lang đường Ld … + Tác động của người lái: dạng đánh lái, vận tốc đánh lái, góc đánh lái và tấn số đánh lái… + Tác động của ngoại lực: Lực gió dọc Fwx và lực gió ngang Fwy … Giao thông vận tải bằng ô tô đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại. Ô tô là một phương tiện giao thông đang dần dần phổ biến ở nước ta và giữ vai trò quan trọng trong mạng lưới giao thông đường bộ.
Hệ thống hạ tầng giao thông cùng kỹ thuật hiện đại cho phép ô tô chuyển động với tốc độ cao, nâng cao năng suất vận chuyển. Với sự tăng trưởng tốc độ và mật độ chuyển động của 4 ô tô ngày nay đòi hỏi ô tô phải đảm bảo tính điều khiển ở mức độ cao. Tuy nhiên ở tốc độ cao, ô tô đòi hỏi tính năng ổn định cao nhằm nâng cao tính an toàn chuyển động của nó. Mất ổn định hướng và quỹ đạo chuyển động.
Mất ổn định hướng Có 3 trạng thái mất ổn định hướng có thể xảy ra: ˗ Cầu trước trượt: tùy vào mức độ trượt, xe bắt dầu quay vòng thiếu ít cho đến khi trượt nhiều, xe không có khả năng vào cua, chuyển động theo phương quán tính (tiếp tuyến); ˗ Cầu sau trượt: khi cầu sau trượt, xe bắt đầu quay vòng thừa, xe mất ổn định, bán kính quay vòng có thể bằng 0; ˗ Khi hai cầu cùng trượt, tuỳ theo mức độ và tương quan giữa 2 cầu, xe có thể quay vòng thừa hoặc thiếu. Có 2 giai đoạn trượt là trượt đàn hồi và trượt lết: ˗ Trượt đàn hồi là trượt tương đối bởi các phân tử cao su của lốp; ˗ Trượt lết là di chuyển tương đối trên bề mặt lốp đường. Quá trình trượt lết phụ thuộc hệ số bám ngang. Để đánh giá ổn định hướng của xe, có thể sử dụng mô hình chuyển động quay vòng 1 dãy: Hình 1.
Mô hình chuyển động một dãy. 5 Trong mô hình một dãy, hai bánh xe trên một cầu được đưa về tâm cầu. Khi quay vô lăng một góc φL làm cho bánh xe dẫn hướng quay đi một góc φ dẫn đến xe quay vòng với bán kính quay vòng R. Khi đó trên các bánh xe xuất hiện góc trượt δ1 và δ2.
Để đánh giá ổn định hướng của ô tô bằng mô hình một dãy ta sử dụng hệ số ổn định K được tính như sau: m L2 L = − 1 2 O K (1.1) ( ) L 1 + L 2 δ1 Oδ 2 K gọi là hệ số ổn định, phụ thuộc vào khối lượng m và vị trí trọng tâm (L1, L2) và hệ số cứng góc Oδ1, Oδ2. – Quay vòng thiếu khi K > 0: phải tăng góc lái để đạt cung quay vòng mong muốn, nhưng xe vẫn ổn định; trạng thái cực trị xe mất tính điều khiển; – Quay vòng đủ khi K = 0; – Quay vòng thừa khi K< 0: xe mất ổn định. Nếu xét trường hợp xe đi với một vận tốc v rất chậm thì có thể coi: L1 ϕ1 = (1.2) R Tuy nhiên trong trường hợp xe quay vòng với vận tốc v lớn thì các hệ số trượt α1 và α2 là đại lượng cần được xét đến trong quan hệ góc Ackerman như sau: L ϕ1 = + δ1 − δ 2 (1.3) R Với công thức (1.3) có thể xác định được trạng thái quay vòng theo mối quan hệ góc trượt ngang tại các bánh xe như sau: - Nếu δ1 - δ2 > 0 => Quay vòng thiếu; - Nếu δ1 - δ2 = 0 => Quay vòng đủ; - Nếu δ1 - δ2 < 0 => Quay vòng thừa. Tuy nhiên đối với mô hình một dãy sẽ rất khó đánh giá được các trạng thái quay vòng của xe khi phanh hoặc điều kiện chuyển động của hai bên bánh xe trên một cầu khác nhau.
Mất ổn định quỹ đạo 6 Hình 1. 6 Các trạng thái mất ổn định quỹ đạo Chuyển động của xe khi quay vòng (vào cua)sẽ tạo ra 3 trạng thái quỹ đạo (hình 1.6): ˗ Quay vòng đủ: ở trạng thái này ôtô có tính chất quay vòng lý tưởng. Ở trường hợp này bán kính quay vòng thực tế của xe bằng với bán kính quay vòng yêu cầu. Xe chạy ổn định.
˗ Quay vòng thừa: trạng thái quay vòng thừa tức là bán kính quay vòng của xe nhỏ hơn bán kính yêu cầu, ở trạng thái này xe bị mất ổn định nguy hiểm, xe vi phạm làn đường bên trái. ˗ Quay vòng thiếu: là trạng thái mà lái xe quay vô lăng nhiều hơn để vào cua. Trong trường hợp này xe có thể rơi vào trạng thái nguy hiểm - mất lái, xe sẽ bị lệch khỏi quỹ đạo mong muốn và vi phạm làn đường bên phải. Trong nghiên cứu động lực học ô tô có thể đánh giá trạng thái quay vòng của • • xe theo các thông số là vận tốc góc quay thân xe ξ và gia tốc góc quay thân xe ∆ξ như hình 1.
7 Các thông số đặc trưng đặc tính quay vòng. Không giống như mất ổn định lật ngang, đã có tiêu chí rõ ràng là sự tách bánh xe khỏi mặt đường.