CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU lựa chọn và trình bày các khung lý thuyết được sử dụng trong luận án: các khía cạnh quản lý tài nguyên nước, cấp độ và hành vi tham gia của cộng đồng vào quản lý tài 1. Quản lý tài nguyên nướcdựa vào cộng đồng nguyên nước, các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng và lý thuyết hành 1. Tổng quan về các cách tiếp cận quản lý tài nguyên vi dự kiến. Đồng thời, các giả thuyết nghiên cứu cũng được đưa ra.
Đã có rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về quản lý tài nguyên. Chương 3:Phương pháp nghiên cứu. Chương này mô tả chi tiết về phương Các nghiên cứu chia thành hai cách tiếp cận cơ bản. Nhóm thứ nhất tiếp cận dưới góc pháp nghiên cứu trong luận án, gồm khung nghiên cứu, mô hình và các biến nghiên độ kinh tế học: xem xét tài nguyên thiên nhiên bằng khung lý thuyết kinh tế.
Nhóm thứ cứu, nguồn dữ liệu, cách thức thu thập và xử lý dữ liệu. hai tiếp cận dưới góc độ tài nguyên là một tài sản chung và đề xuất cách quản lý tài sản Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Bên cạnh tổng quan về địa bàn nghiên cứu là chung đó. vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái, chương 4 phân tích hiện trạng tham gia quản lý tài nguyên nước của cộng đồngvà xác định các nhân tố tác động lên hành vi tham gia Cách tiếp cận kinh tế đối với tài nguyên thiên nhiên đã đưa ra một loạt các lý quản lý tại địa bàn nghiên cứu dựa trên dữ liệu điều tra.
thuyết và công cụ nhằm giám sát, phân tích, đánh giá và quản lý tài nguyên. Cụ thể, Chương 5: Đề xuất giải pháp. Từ kết quả nghiên cứu trong chương 4, chương kinh tế học tài nguyên thiên nhiên xây dựng mô hình khai thác bền vững tài nguyên 5 đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng trong quản lý tài thiên nhiên – cơ sở để đưa ra các công cụ quản lý tài nguyên. Các công cụ quản lý nguyên nước vùng hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái.
được chia thành hai nhóm gồm: (i) công cụ của nhà nước (thuế, hạn mức khai thác, trợ cấp, tiêu chuẩn, giấy phép) và (ii) công cụ của thị trường (quyền tài sản), hàm ý nhấn mạnh đến lựa chọn hoặc nhà nước quản lý, hoặc để thị trường điều tiết. Cách tiếp cận kinh tế dựa trên mối quan hệ tác động qua lại, hai chiều giữa kinh tế và môi trường. Môi trường cung cấp các dịch vụ khác nhau cho hoạt động kinh tế của con người. Ngược lại, con người thông qua các hoạt động kinh tế lại tác động lên môi trường, và điều này có thể tạo ra ngoại ứng làm ảnh hưởng đến hoạt động của những người khác.
Kinh tế học giúp chúng ta đánh giá được các ngoại ứng với giá trị bằng tiền và đưa ra công cụ giúp “nội hóa” các ngoại ứng. Tuy nhiên, các mô hình kinh tế thường dựa trên những giả định chặt chẽ mà thực tế khó có thể đáp ứng, do đó kết quả của các chính sách dựa trên kinh tế học thường khó cân đối được lợi ích của tất cả các bên liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên và đảm bảo tính bền vững lâu dài (Dietz và Neumayer, 2009). Đồng thời, khi giả định rằng các cá nhân chỉ tối đa hóa lợi ích cá nhân, cách tiếp cận kinh tế đã bỏ qua hành vi “xã hội” của các đối tượng sử dụng. Ostrom (1990) nhận thấy với sự tham gia của cộng đồng, tài nguyên thuộc nhóm “tài sản chung” có thể được quản lý một cách hiệu quả, bền vững.
Những nghiên cứu của Ostrom ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy cộng đồng sử dụng nguồn lực địa phương có thể tự mình quản lý chúng tốt hơn chính quyền vì các nhà quản lý có thể quan liêu, không có thông tin chính xác, trong khi người sử dụng nguồn lực lại nắm rõ thông tin. Một số quy định liên quan của Nhà nước có thể không có tác dụng do đôi khi chúng không được xây dựng dựa trên hoàn cảnh, tập quán của địa phương; trái lại, 12 13 trong nhiều trường hợp, các quy định quản lý của cộng đồng tỏ ra có hiệu quả và bền năm 1990, trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, mô hình quản lý nhà nước hay tư nhân vững hơn. Vì vậy, có thể xây dựng giải pháp quản lý dựa vào cộng đồng. đều chứng tỏ không hiệu quả và tạo ra nhiều tác động xã hội.
Vì thế, mô hình quản lý dựa vào cộng đồng đã được đưa vào áp dụng, trước hết trong lĩnh vực quản lý rừng ở 1. Tổng quan về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng các vùng cao, biên giới – nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Phương thức quản lý Cộng đồng này được dựa trên mô hình quản lý truyền thống đã được áp dụng ở vùng núi của Theo Checkoway (1995), cộng đồng được hiểu là một nhóm người trong xã hội nhiều nước trên thế giới, khi mọi người dân địa phương hợp tác với nhau và cùng quản cùng đưa ra sáng kiến và hành động chung. Có thể hiểu theo nghĩa hẹp như định nghĩa lý nguồn lực và chia sẻ lợi ích.
Cách tiếp cận này cho phép sử dụng nguồn lực một của Conner (2007): “Cộng đồng là các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích cách bền vững.Sau đó, mô hình quản lý dựa vào cộng đồng được mở rộng cho tài và mối quan tâm”. Theo quan điểm chung ở Việt Nam, cộng đồng là một tập hợp các nguyên ven biển, ví dụ Khánh Hòa, Thừa Thiên – Huế. công dân cư trú trong một khu vực địa lý nhất định, hợp tác với nhau vì những lợi ích Quản lý dựa vào cộng đồng (CBM) là tập hợp các mô hình quản lý có sự tham chung và chia sẻ những giá trị văn hóa chung. Chi Cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội gia của cộng đồng; trong đó, cộng đồng tham gia vào quá trình ra quyết định về các (2007) định nghĩa: một tập hợp người được coi là cộng đồng khi thỏa mãn các tính vấn đề liên quan đến quá trình lập kế hoạch và triển khai thực hiện.
CBM là một trong chất về địa lý, văn hóa và lợi ích: ba phương thức quản lý: (i) Nhà nước quản lý; (ii) Quản lý dựa vào cộng đồng; và (iii) - Tương đồng về địa lý: Để gọi là một cộng đồng thì phải đảm bảo yêu cầu cộng Cộng đồng quản lý. Xét về góc độ hiệu quả quản lý, phát triển hình thức CBM sẽ làm đồng đó phải cùng sống trong một vùng địa lý sinh thái nhất định và cũng có thể trong giảm gánh nặng cho các cơ quan quản lý nhà nước trên các phương diện tài chính, cùng một đơn vị hành chính. quản lý, kinh tế và xã hội. - Tương đồng về lợi ích: Trong trường hợp quản lý môi trường, trước hết cộng - Về tài chính, CBM giúp huy động vốn đầu tư xã hội, giảm sức ép đầu tư cho đồng đó cần hợp lực quản lý các yếu tố môi trường để cùng hưởng lợi ích chung là ngân sách Nhà nước.
môi trường trong lành và cùng chia sẻ lợi ích mà môi trường đó mang lại. - Về quản lý, CBM chính là việc chuyển giao một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm - Tương đồng về văn hóa: Tùy trường hợp, cộng đồng tìm kiếm những giá trị quản lý một số lĩnh vực nhất định cho cộng đồng. Nhờ vậy, gánh nặng quản lý của văn hóa chung để tham gia. Ở đây yếu tố văn hóa và địa lý có quan hệ mật thiết với chính quyền địa phương được giảm bớt.
nhau, nói đến văn hóa là nói đến con người ở một vùng, một dân tộc, một quốc gia - Về kinh tế, CBM giúp khai thác và sử dụng bền vững hơn, hiệu quả hơn các hay châu lục. loại tài nguyên cũng như các nguồn lực phát triển khác. Như vậy, có thể định nghĩa cộng đồng là một nhóm người cùng sống trong một - Về xã hội, khi có CBM, nhận thức của người dân về vai trò, trách nhiệm của khu vực địa lý, có những lợi ích chung và trong cộng đồng, mọi người đưa ra quyết bản thân được nâng cao, đoàn kết dân tộc được củng cố, việc tuyên truyền, thực hiện định chung và hành động vì những lợi ích chung đó. các quy định pháp luật trong cộng đồng được thuận lợi hơn.
Quản lý dựa vào cộng đồng Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng Trên thế giới, vào khoảng cuối những năm 1960, trong phần giới thiệu của Báo Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là một ứng dụng thực tiễn của CBM, đề cáo Đánh giá các dự án cấp nước nông thôn, lần đầu tiên thuật ngữ “có liên quan đến cập đến sự tham gia của các cộng đồng có lợi ích liên quan trong quản lý tài nguyên cộng đồng” được sử dụng. Đến năm 1969, khái niệm quản lý dựa vào cộng đồng được đất và nước, rừng, động vật hoang dã, du lịch, nguồn lợi thủy sản và các tài nguyên đưa ra trong nghiên cứu về Cải thiện y tế thôn bản tại Đài Loan của Chang (1969). Có thể xem xét quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng từ hai góc độ:Từ góc độ từ đó, các nhà nghiên cứu và khoa học trên thế giới bắt đầu quan tâm đến việc phân trao quyền hợp pháp để quản lý tài nguyên, quản lý dựa vào cộng đồng là một quy tích và ứng dụng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng trong các lĩnh vực mà quản lý trình trao quyền cho cộng đồng sử dụng tài nguyên. Tức là cộng đồng có quyền sử nhà nước không phát huy được vai trò một cách hiệu quả.
Ở Việt Nam, từ giữa những dụng và quản lý tài nguyên.Từ góc độ năng lực quản lý của cộng đồng, quản lý dựa 14 15 vào cộng đồng được xem như là một hệ thống các kỹ năng để thực hiện các hoạt động và mức độ hợp tác cũng như quyền làm chủ của cộng đồng tăng lên. và phụ thuộc vào quan hệ đối tác giữa nhà nước và người dân. Quan hệ đối tác phụ Theo Vandergeest (2006, tr. 344), quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là thuộc vào sự tín nhiệm và tin tưởng của cả hai phía, để phát triển mối quan hệ này cần “một cách tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên tại địa phải có nỗ lực từ hai bên và thời gian.Có thể thấy, khái niệm của Dower đưa ra là phương”.
Đỗ Thị Kim Chi (2006) cho rằng quản lý tài nguyên – môi trường dựa vào tương đồng với khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” của Việt Nam.