Luận văn thạc sĩ về quan hệ thương mại Việt Nam - Liên bang Nga giai đoạn 2007-2014

Khám phá luận văn thạc sĩ về quan hệ thương mại Việt Nam - Liên bang Nga giai đoạn 2007-2014, phân tích xu hướng và tác động kinh tế.

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

105
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quan hệ thương mại Việt Nam Liên bang Nga giai đoạn 2007 2014

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ năm 2007, khi Việt Nam gia nhập WTO, quan hệ này đã có những bước tiến đáng kể. Kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng lên, nhưng vẫn chưa đạt được tiềm năng tối đa. Mối quan hệ này không chỉ dựa trên lợi ích kinh tế mà còn mang tính chất chiến lược, phản ánh sự hợp tác lâu dài giữa hai quốc gia.

1.1. Lịch sử hình thành quan hệ thương mại Việt Nam Nga

Mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga bắt đầu từ những năm 1955 với Hiệp định hợp tác kinh tế. Qua các thập kỷ, quan hệ này đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sau khi Liên Xô tan rã. Tuy nhiên, sự hồi phục thương mại vẫn còn chậm so với kỳ vọng.

1.2. Tình hình thương mại hai chiều giai đoạn 2007 2014

Giai đoạn 2007-2014 chứng kiến sự gia tăng kim ngạch thương mại giữa hai nước. Tuy nhiên, con số này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Năm 2014, kim ngạch thương mại chỉ đạt 2,2 tỷ USD, cho thấy cần có những biện pháp thúc đẩy mạnh mẽ hơn.

II. Những thách thức trong quan hệ thương mại Việt Nam Liên bang Nga

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các rào cản thương mại, chính sách và sự cạnh tranh từ các đối tác khác là những yếu tố cần được giải quyết để thúc đẩy quan hệ này.

2.1. Rào cản thương mại và chính sách

Các rào cản thương mại như thuế quan cao và quy định phức tạp đã ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu của Việt Nam sang Nga. Chính sách thương mại của Nga cũng cần được điều chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hàng hóa Việt Nam.

2.2. Cạnh tranh từ các đối tác khác

Việt Nam không chỉ cạnh tranh với các nước trong khu vực mà còn với các đối tác lớn như Trung Quốc và Mỹ. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải nâng cao chất lượng sản phẩm và cải thiện chiến lược tiếp cận thị trường.

III. Phương pháp nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam Liên bang Nga

Để phân tích quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga, nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng. Các phương pháp định lượng và định tính giúp đánh giá chính xác tình hình thương mại và các yếu tố ảnh hưởng.

3.1. Phương pháp định lượng trong nghiên cứu

Phương pháp định lượng sử dụng các số liệu thống kê để phân tích xu hướng thương mại. Các chỉ số như kim ngạch xuất nhập khẩu, tỷ lệ tăng trưởng được sử dụng để đánh giá hiệu quả thương mại giữa hai nước.

3.2. Phương pháp định tính trong nghiên cứu

Phương pháp định tính giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh chính trị và kinh tế ảnh hưởng đến quan hệ thương mại. Các cuộc phỏng vấn và khảo sát ý kiến từ các chuyên gia cũng được thực hiện để thu thập thông tin chi tiết.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga có nhiều tiềm năng nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức. Việc áp dụng các giải pháp cụ thể sẽ giúp tăng cường quan hệ này trong tương lai.

4.1. Đánh giá kết quả thương mại giai đoạn 2007 2014

Kết quả thương mại trong giai đoạn này cho thấy sự gia tăng nhưng chưa đạt được mục tiêu đề ra. Cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình.

4.2. Ứng dụng các giải pháp thúc đẩy thương mại

Các giải pháp như giảm thuế quan, cải thiện chính sách thương mại và tăng cường xúc tiến thương mại sẽ là những yếu tố quan trọng giúp nâng cao kim ngạch thương mại giữa hai nước.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của quan hệ thương mại

Kết luận cho thấy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga có nhiều triển vọng trong tương lai. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đề ra, cần có sự nỗ lực từ cả hai phía trong việc tháo gỡ các rào cản và thúc đẩy hợp tác.

5.1. Triển vọng phát triển quan hệ thương mại

Triển vọng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga là rất khả quan. Cả hai nước đều có nhu cầu hợp tác và phát triển kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường thương mại.

5.2. Những khuyến nghị cho tương lai

Cần có những khuyến nghị cụ thể nhằm tăng cường quan hệ thương mại, bao gồm việc cải thiện chính sách, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế và thương mại.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ quan hệ thương mại việt nam liên bang nga giai đoạn 2007 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo , luận văn gồm 4 chƣơng lớn nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Liên bang Nga. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn số liệu. Chƣơng 3: Phân tích thực trạng và đánh giá quan hệ thƣơng mại hàng hóa giữa Việt Nam – Liên bang Nga giai đoạn 2007 – 2014. Chƣơng 4: Một số kiến nghị nhằm phát triển quan hệ thƣơng mại hàng hóa song phƣơng giữa Việt Nam – Liên bang Nga trong giai đoạn 2015-2020.

4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Liên bang Nga Có rất nhiều tài liệu nƣớc ngoài nghiên cứu về Liên bang Nga thuộc các lĩnh vực khoa học, lịch sử, kinh tế, chính trị, ngoại giao. Song việc tiếp cận với các tài liệu nghiên cứu về quan hệ thƣơng mại của Liên bang Nga với một quốc gia, một nhóm quốc gia hay các vùng lãnh thổ, đặc biệt là với Việt Nam còn nhiều hạn chế. Dƣới đây là hai tài liệu nƣớc ngoài gần đây nhất có nội dung đề cập đến quan hệ thƣơng mại của Liên bang Nga với một số quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

Đại diện cho các công trình nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp định lƣợng có nghiên cứu Regional trade and economic growth in the CIS region của tác giả Nurbek Jenish xuất bản năm 2013. Nghiên cứu này sử dụng phƣơng pháp định lƣợng để đánh giá ảnh hƣởng của thƣơng mại tới tăng trƣởng kinh tế, các chủ thể đƣợc nghiên cứu gồm 11 nƣớc thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập CIS, trong đó có Liên bang Nga. Mục đích của nghiên cứu là kiểm chứng vai trò của thƣơng mại nội vùng và ngoại vùng tới thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc CIS. Các mẫu số liệu đƣợc thu thập trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010.

Phƣơng pháp hồi quy tuyến tính đƣợc sử dụng để đánh giá ảnh hƣởng của thƣơng mại vùng tới tăng trƣởng kinh tế và tính toán mối quan hệ nhân quả giữa các biến số vĩ mô. Thông qua xây dựng mô hình kinh tế lƣợng với một loạt các biến số nhƣ tốc độ tăng trƣởng GDP bình quân của mỗi nƣớc, tỉ lệ đầu tƣ trên GDP, tỉ lệ chi tiêu 5 chính phủ trên GDP, tốc độ tăng trƣởng thƣơng mại với Liên bang Nga, tốc độ tăng trƣởng thƣơng mại nội vùng trừ Liên bang Nga, tốc độ tăng trƣởng thƣơng mại ngoại vùng, chỉ số tự do của nền kinh tế, chỉ số giá dầu cùng nhiều biến số khác có liên quan, tác giả đã đi đến một số kết luận quan trọng, trong đó đặc biệt đề cập đến vai trò của Liên bang Nga trong việc thúc đẩy tăng trƣởng thƣơng mại của khối CIS, tăng trƣởng kinh tế biến thiên với tăng trƣởng thƣơng mại. Nhƣ vậy, nghiên cứu một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của Liên bang Nga đối với Cộng đồng các quốc gia độc lập trên bình diện kinh tế - thƣơng mại. Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu chƣa hoàn toàn thuyết phục, còn mang tính chủ quan và tất yếu bởi Nga vốn có tầm ảnh hƣởng lớn đối với các nƣớc CIS, nên ảnh hƣởng kinh tế thƣơng mại có lẽ cũng là đƣơng nhiên.

Đại diện cho nhóm các công trình nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp định tính có cuốn sách ASEAN – Russia: Foundations and Future Prospect do ba tác giả Victor Sumsky, Mart Hong và Amy Lugg hiệu đính. Đây là cuốn sách mới nhất trong chuỗi ba cuốn sách viết về quan hệ Nga – ASEAN xuyên suốt theo tiến trình thời gian của Viện nghiên cứu Đông Nam Á Xing-ga-po ISEAS. Trong cuốn sách mới nhất xuất bản năm 2012, bên cạnh nội dung các mối quan hệ của Nga với ASEAN và nhiều nƣớc thành viên nhƣ Ma-lai-xi-a hay Thái Lan đƣợc đề cập lại, thì quan hệ Liên bang Nga – Việt Nam lần này cũng đƣợc dành hẳn một chƣơng với những nội dung quan trọng gồm lịch sử quan hệ truyền thống, và hợp tác toàn diện trên nhiều lĩnh vực gồm chính trị, quân sự, khoa học, giáo dục, đặc biệt là hợp tác về kinh tế, thƣơng mại. Những thành tựu thƣơng mại giữa hai nƣớc cũng đƣợc tác giả Vladimir Mazyrin đề cập đến trong chƣơng sách nhƣ quan hệ thƣơng mại hai nƣớc đã dần hồi phục song vẫn còn rất hạn chế.

Năm 2005, thƣơng mại song phƣơng giữa hai nƣớc mới đạt kim ngạch 1 triệu USD, đến năm 2010 đã tăng lên gần 6 2 tỷ USD, kỳ vọng sẽ nâng kim ngạch trao đổi hai chiều lên mức 3 tỷ USD vào năm 2012 và 10 tỷ USD vào năm 2020. Tuy nhiên, mức kỳ vọng này vẫn còn quá nhỏ bé khi so với các đối tác thƣơng mại lớn của Việt Nam nhƣ Mỹ hay Trung Quốc. Năm 2010, tỉ trọng thƣơng mại Việt Nam – Liên bang Nga chỉ chiếm 1,2% trong tổng kim ngạch thƣơng mại của Việt Nam. Mặc dù thƣơng mại giữa hai nƣớc còn hạn chế song Nga vẫn coi Việt Nam là đối tác chiến lƣợc trong chính sách đối ngoại cân bằng Đông – Tây của mình.

Chƣơng sách đã đƣa ra những nhận định khách quan về mối quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga đầy triển vọng trong tƣơng lai với sự nỗ lực hợp tác thúc đẩy của cả hai nƣớc. Mặc dù còn hạn chế về dung lƣợng, song những nền tảng lý luận khoa học của quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga mà cuốn sách đƣa ra lại là những thành tựu mà nhiều nghiên cứu về sau có thể kế thừa và phát huy. Bên cạnh các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài, quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga cũng là một đề tài truyền thống, thu hút đƣợc rất nhiều chuyên gia trong nƣớc tham gia nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về nƣớc Nga, gồm: GS.

TS Bùi Huy Khoát, PGS.TS Nguyễn Quang Thuấn, PGS.TS Nguyễn An Hà, TS. Nguyễn Cảnh Toàn, TS. Hà Mỹ Hƣơng, và nhiều chuyên gia khác. Các nhà nghiên cứu đã rất khéo léo khi xây dựng bức tranh về bối cảnh quốc tế và khu vực để làm nổi rõ những thay đổi trong hoạt động đối nội và đối ngoại của Liên bang Nga.

Trong cuốn Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỉ XXI, TS. Nguyễn An Hà đã chỉ rõ trật tự thế giới hiện nay đã không còn là trật tự hai cực Mỹ và Liên Xô nhƣ trƣớc đây, mà chuyển sang trật tự một cực khi siêu cƣờng Mỹ áp đặt tầm ảnh hƣởng cả về kinh tế và quân sự lên thế giới. Còn trong cuốn “Các giải pháp phát triển quan hệ Nga – ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới”, tác giả Nguyễn Quang Thuấn lại đặt thế giới trong một 7 trật tự đa cực. Tuy nhiên, dù trong bối cảnh đơn cực hay đa cực, cũng phải nhận thức rõ rằng thế giới hiện nay đang phát triển theo xu hƣớng hòa bình hợp tác, toàn cầu hóa và khu vực hóa.

Trong cuốn Quan hệ Nga – ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới, hay Quan hệ Nga – ASEAN trong những thập niên đầu thế kỉ 21, các tác giả cũng tập trung phân tích rất rõ về vị thế của ASEAN và khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng đang gia tăng đã có những tác động lớn tới chính sách đối ngoại của Liên bang Nga. Hiện nay, sức mạnh XHCN của Liên Xô đã không còn, thay vào đó là một Liên bang Nga mới, đang trong quá trình tái thiết đất nƣớc theo con đƣờng TBCN, và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế. Với đối tƣợng nghiên cứu chính là Liên bang Nga đặt trong các mối quan hệ với khu vực ASEAN hay quốc gia nhƣ Việt Nam, điểm qua một số vấn đề chính trị và kinh tế nổi bật của Nga đƣợc xem là cần thiết. Trƣớc hết, hai cuốn Quan hệ Việt – Nga trong bối cảnh quốc tế mới, và Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga trong điều kiện hai nước đều là thành viên WTO đều trình bày sơ lƣợc về tình hình kinh tế - xã hội của Liên bang Nga giai đoạn hậu Xô Viết, từ năm 1991 cho đến năm 2008.

Sau khi Liên Xô tan rã, nƣớc Nga thay đổi hoàn toàn trong hệ tƣ tƣởng và chính trị, rũ bỏ hoàn toàn XHCN, đi theo con đƣờng TBCN. Đất nƣớc Nga lúc này phải đối mặt với rất nhiều vấn đề bao gồm hệ thống luật pháp không thống nhất, kém hiệu lực, trung ƣơng mất quyền kiểm soát địa phƣơng, chủ nghĩa khủng bố, li khai hoành hành, kinh tế ngầm, buôn lậu, trốn thuế, tham nhũng lộng hành, tội phạm có tổ chức hoạt động mạnh. Cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị trầm trọng giai đoạn những năm cuối của thế kỉ 20 dƣới thời Tổng thống B.Ensim đã đẩy Liên bang Nga tới nguy cơ tan rã. Ƣu tiên hàng đầu của Tổng thống V.

Putin sau khi lên nắm quyền chính là cải tổ lại hệ thống chính trị, chính đốn và tăng cƣờng quyền lực, cải cách hệ thống hành chính. Trải qua 8 những giai đoạn khó khăn, từ năm 2000, dƣới sự lãnh đạo của Tổng thống V. Putin, tình hình nƣớc Nga đã có nhiều khởi sắc, đặc biệt nhờ chủ động tham gia hội nhập kinh tế thế giới cùng việc tận dụng lợi thế tăng giá liên tục của nguyên nhiêu liệu trên thị trƣờng thế giới, một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Nga. Xét về tốc độ tăng trƣởng, nhìn chung những năm qua, tốc độ tăng trƣởng GDP trung bình của Nga xấp xỉ 7%/năm.

Năm 2008, nền kinh tế Nga xếp thứ 8 thế giới, nếu tính theo ngang giá sức mua PPP thì Nga còn vƣợt qua cả Anh và Pháp để chiếm giữ vị trí thứ 6. GDP bình quân đầu ngƣời của Nga cũng ở mức cao, 12000 USD, cao gấp 4 lần Trung Quốc, và cao hơn nhóm BRIC. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 cũng có những tác động tiêu cực tới nền kinh tế Nga. Cụ thể, năm 2009, mức tăng trƣởng kinh tế của Nga tụt xuống, chỉ ở mức -7,9%.

Các doanh nghiệp Nga rơi vào tình trạng nợ nần, thiếu vốn, nạn thất nghiệp gia tăng. Bên cạnh đó, Nga cũng là một nƣớc mất cân đối khá nghiêm trọng trong phát triển kinh tế - xã hội khi giữa các vùng lãnh thổ của Nga và cơ cấu đầu tƣ có sự chênh lệch lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ