ĐẶT VẤN ĐỀ Thỏ (Oryctolagus cuniculus) là loài vật được con người thuần hóa từ lâu để trở thành con vật nuôi, cung cấp thực phẩm và đem lại hiệu quả kinh tế. Thỏ là vật nuôi trong gia đình nông thôn rất phù hợp với nhiều hộ nông dân ở nhiều vùng sinh thái khác nhau và cần được khuyến khích phát triển. Khác với nuôi lợn, gà, vịt… sử dụng 90-95% thức ăn tinh, thỏ là con vật có khả năng sử dụng nhiều thức ăn thô xanh như là các loại cỏ, lá cây… và chuyển hóa một cách có hiệu quả từ rau cỏ sang thực phẩm cho con người. Đặc biệt trong thời điểm hiện nay khi ngành chăn nuôi gia cầm đang ngừng trệ do đại dịch cúm H5N1 đe dọa, thì nghề nuôi thỏ có lẽ là một hướng chọn lựa kịp thời và đúng đắn cho nhiều hộ chăn nuôi hoặc muốn chuyển nghề.
Như vậy, trong những nước hay vùng không có nguồn ngũ cốc dư thừa thì chăn nuôi thỏ là môt trong những phương án tốt nhất để sản xuất ra nguồn protein động vật cần thiết cho dinh dưỡng con người một cách kinh tế. Chăn nuôi thỏ đem lại nhiều lợi ích và thuận lợi cho người chăn nuôi vì thỏ sinh sản rất nhanh do độ tuổi sinh sản chỉ khoảng 6-7 tháng và thời gian mang thai rất ngắn chỉ khoảng 1 tháng. Bên cạnh đó, thức ăn của thỏ rẻ tiền và ít cạnh tranh với các loại gia súc khác. Mặt khác nuôi thỏ đầu tư ít vốn, từ khâu chọn giống đến thức ăn, lao động chuồng trại không nhiều mà cũng đem lại hiệu quả kinh tế tương đối cao.
Nghề nuôi thỏ không cần lao động nặng nhọc, tận dụng lao động nhàn rỗi trong gia đình như phụ nữ, trẻ em hay người cao tuổi. Đặc biệt đây là ngành chăn nuôi khá phù hợp cho người lớn tuổi cần lao động nhẹ nhàng chăm sóc tỉ mỉ và chu đáo. Nuôi thỏ cung cấp thịt nhanh, khoảng 3 tháng là có thể xuất chuồng được. Ngoài ra thịt thỏ có giá trị dinh dưỡng tốt, thịt ngon, ít mỡ và nhiều đạm dễ tiêu hóa thích hợp với người già, trẻ em và người bệnh.
SVTH : Lê Phi Anh Trang 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : PGS. Trịnh Hữu Phước Trong tương lai gần với dân số ngày càng gia tăng, nhu cầu thực phẩm cho người dân ngày càng lớn, nhu cầu nghiên cứu khoa học và giảng dạy cũng tăng lên. Nhưng ở Việt Nam, nguồn giống thỏ tốt để cung cấp cho thị trường không đủ. Giống thương phẩm chuẩn cũng rất khó khăn.
Có nơi mua về mới phát hiện hoặc tự nó bộc lộ các khuyết điểm, khuyết tật của con giống (về sinh sản, về ngoại hình, về bệnh tật… ) Yêu cầu của các nhà chăn nuôi là đạt hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất với năng suất cao và chi phí tối thiểu. Với mong muốn tìm hiểu đời sống của loài thỏ, chúng tôi thực hiện đề tài : “ Nghiên cứu quá trình sinh trưởng và phát triển của thỏ (Oryctolarus cuniculus) trong điều kiện khí hậu vùng đô thị mới tỉnh Bình Dương (Tại trường ĐH Mở tp.HCM - Cơ sở III Bình Dương) Mục tiêu : Xác định tốc độ sinh trưởng của thỏ từ lúc nhỏ đến khi trưởng thành. Qua đó góp phần hoàn thiện quy trình xây dựng đàn giống nuôi phục vụ cho thị trường địa phương, tạo thêm nguồn đạm động vật trong khẩu phần dinh dưỡng. Giới hạn đề tài: ❖ Quan sát đặc điểm hình thái, biểu hiện của thỏ từ khi còn nhỏ.
❖ Đo chiều dài đầu, thân, đuôi, vành tai, bàn chân sau…qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển. ❖ Khảo sát sự thay đổi thể trọng của thỏ qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển. ❖ Đếm số lượng hồng cầu, bạch cầu ở thỏ đực và cái trưởng thành. ❖ Xác định công thứ c bạch cầu ở thỏ đực và cái trưởng thành.
❖ Trong điều kiện nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ có thể thực hiện nghiên cứ u từ tháng 02/2008 đến tháng 07/2008. SVTH : Lê Phi Anh Trang 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : PGS. Trịnh Hữu Phước SVTH : Lê Phi Anh Trang 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : PGS. Trịnh Hữu Phước 1.
GIỚ I THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BÌNH DƯƠNG [22] 1.Vị trí địa lý Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh. Tỉnh nằm trên các trục đường giao thông quan trọng của quốc gia như quốc lộ 13, 14, tuyến đường sắt Bắc - Nam, đường xuyên Á và là đầu mối giao lưu của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên theo quốc lộ 13, 14 về thành phố Hồ Chí Minh. Bình Dương có 1 thị xã và 6 huyện với 89 đơn vị hành chính cấp xã, phường và thị trấn. Bình dương hiện nay là một trong những tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa mạnh, do vậy tỉ lệ các vùng đô thị hóa cũng khá mạnh 1.
Khí hậu Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 muà rõ rệt: mùa mưa, từ tháng 5 - 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800 - 2000mm với số ngày có mưa là 120 ngày. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình 335mm, năm cao nhất có khi lên đến 500mm, tháng ít mưa nhất là tháng 1, trung bình dưới 50mm và nhiều năm trong tháng này không có mưa. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,50C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 290C (tháng 4), tháng thấp nhất 240C (tháng 1).
Tổng nhiệt độ hoạt động hàng năm khoảng 9500 - 100000C, số giờ nắng trung bình 2400 giờ, có năm lên tới 2. Chế độ gió tương đối ổn định, ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới. Về mùa khô gió thịnh hành chủ yếu là hướng Đông, Đông - Bắc, về mùa mưa gió thịnh hành chủ yếu là hướng Tây, Tây - Nam. Tốc độ gió bình quân khoảng 0.7m/s, tốc độ gió lớn nhất quan trắc được là 12m/s thường là Tây, Tây - Nam.
Chế độ không khí ẩm tương đối cao, trung bình 80-90% và biến đổi theo mùa. SVTH : Lê Phi Anh Trang 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : PGS. Trịnh Hữu Phước Độ ẩm được mang lại chủ yếu do gió mùa Tây Nam trong mùa mưa, do đó độ ẩm thấp nhất thường xảy ra vào giữa mùa khô và cao nhất vào giữa mùa mưa. Giống như nhiệt độ không khí, độ ẩm trong năm ít biến động.
Với khí hậu nhiệt đới mang tính chất cận xích đạo, nền nhiệt độ cao quanh năm, ẩm độ cao và nguồn ánh sáng dồi dào, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp ngắn và dài ngày. Khí hậu Bình Dương tương đối hiền hoà, ít thiên tai như bão, lụt… 1. Địa hình Địa hình tương đối bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc, phổ biến là những dãy đồi phù sa cổ nối tiếp nhau với độ dốc không quá 3 - 150. Đặc biệt có một vài đồi núi thấp nhô lên giữa địa hình bằng phẳng như núi Châu Thới (Dĩ An) cao 82m và ba ngọn núi thuộc huyện Dầu Tiếng là núi Ông cao 284,6m, núi La Tha cao 198m, núi Cậu cao 155m.
Từ phía Nam lên phiá Bắc, theo độ cao có các vùng địa hình: Vùng thung lũng bãi bồi, phân bố dọc theo các sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé. Đây là vùng đất thấp, phù sa mới, khá phì nhiêu, bằng phẳng, cao trung bình 6 - 10m. Vùng địa hình bằng phẳng, nằm kế tiếp sau các vùng thung lũng bãi bồi, địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc 3 - 120, cao trung bình từ 10 - 30m. Vùng địa hình đồi thấp có lượn sóng yếu, nằm trên các nền phù sa cổ, chủ yếu là các đồi thấp với đỉnh bằng phẳng, liên tiếp nhau, có độ dốc 5 - 120, độ cao phổ biến từ 30 - 60m.
Với địa hình cao trung bình từ 6 - 60m, nên trừ một vài vùng thung lũng dọc sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, đất đai ở Bình Dương ít bị lũ lụt, ngập úng. Địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc mở mang hệ thống giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và sản xuất nông nghiệp. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦ A THỎ [10,12] SVTH : Lê Phi Anh Trang 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : PGS. Trịnh Hữu Phước Tùy theo giống mà thỏ có kích cỡ khác nhau.
Song trung bình, một con thỏ trưởng thành có thể dài 40cm và nặng từ 1,2 đến 2kg trở lên. Cả con đực và con cái đều có kích thước tương đương nhau. Thỏ nhà là loài gia súc tương đối yếu, khá nhạy cảm và dễ có phản ứng cơ thể với những điều kiện thay đổi của môi trường bên ngoài như nắng, mưa, ẩm độ, nhiệt độ, thức ăn, nước uống, tiếng ồn và các ô nhiễm môi trường khác. Vì vậy, người nuôi thỏ cần phải hiểu rõ về các đặc tính sinh học nhằm bảo đảm tạo cho thỏ đầy đủ các yêu cầu tối ưu nhất cho thỏ sinh sống, khi môi trường sống có sự thay đổi thì biết cách áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăn nuôi.
Cơ thể [10] ❖ Mắt Có tầm nhìn rộng gần 1800, quan sát tốt ở hai bên, trên và dưới Thỏ nhìn tốt hơn chúng ta trong ánh sáng lờ mờ. Do vậy, trong đêm tối thỏ vẫn có thể ăn uống ban đêm cũng như ban ngày. ❖ Đặc điểm về khứu giác : Thỏ có 100 triệu thụ quan giúp chúng nhận ra mùi, thỏ có thể nhận ra bạn từ mùi trên thân thể bạn. Thỏ con có thể ngửi biết một động vật lạ hay một người đến gần chúng.
Thỏ giật giật cái mũi từ 20 đến 120 lần/phút để đánh hơi nhận ra mùi. Cơ quan khứu giác của thỏ rất phát triển, nó có thể ngửi mùi mà phân biệt được con của nó hay của con khác. Trường hợp muốn ghép thỏ con sơ sinh vào thỏ mẹ khác để nuôi ta nên sử dụng một số chất có mùi thoa trên cả thỏ con của thỏ mẹ và thỏ con ghép vào để thỏ mẹ không phân biệt được, để sau một giờ nhốt chung mà thỏ mẹ không phân biệt được thì coi như là ghép thành công. ❖ Miệng : Răng thỏ phát triển suốt đời.
Mỗi năm, các răng trước phát triển khoảng 12,7cm, các răng hàm tăng khoảng 7,62 đến 10,16cm. Lưỡi thỏ có khoảng 8000 nụ vị giác. Do đó, chúng có những thức ăn ưa thích riêng. Thỏ cần uống nước sạch hàng ngày.
❖ Tai : SVTH : Lê Phi Anh Trang 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : PGS.