CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH KHẨN HOANG, LẬP LÀNG Ở VÙNG ĐẤT TÂN UYÊN TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XVIII 1. Vài nét về địa danh Tân Uyên trong lịch sử 10 Địa danh Tân Uyên xuất hiện trên bản đồ hành chính triều Nguyễn từ năm 1836, lúc đó Tân Uyên là một xã thuộc tổng Chánh Mỹ Trung, huyện Phước Chánh, phủ Phước Long. Từ lúc này cho đến trước năm 1955 địa giới hành chính Tân Uyên có sự thay đổi nhưng không đáng kể và Tân Uyên vẫn thuộc vào tổng Chánh Mỹ Trung. Năm 1956, Tân Uyên là một đơn vị hành chính cấp huyện (quận Tân Uyên), thuộc tỉnh Biên Hòa.
Cũng trong thời điểm đó, chính quyền cách mạng chia Tân Uyên thành một huyện thuộc tỉnh Thủ Biên. Sau giải phóng, Tân Uyên là một huyện thuộc địa phận tỉnh Sông Bé. Lúc này tỉnh Sông Bé gồm có: Thị xã Thủ Dầu Một, huyện Phước Long, huyện Lộc Ninh, huyện Bù Đăng, huyện Bình Long, huyện Đồng Phú, huyện Bến Cát, huyện Tân Uyên, huyện Thuận An với 135 xã, phường, thị trấn. Đến ngày 6 tháng 11 năm 1996, tỉnh Sông Bé được tách ra thành 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước, lúc này huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương.
Đến ngày 29 tháng 12 năm 2013 (ngày chính thức 01/4/2014) đến nay, huyện Tân Uyên được tách thành Thị xã Tân Uyên và Huyện Bắc Tân Uyên. Lược sử vùng đất Tân Uyên trước thế kỷ XVII Lịch sử vùng đất Tân Uyên xưa trước khi người Việt đến định canh định cư, do tư liệu tìm được về vấn này còn hạn chế nên chưa đủ cơ sở để minh định. Tuy nhiên, dựa trên các khảo sát, điều tra, nghiên cứu của các nhà khảo cổ học cùng kết quả của các cuộc khai quật khảo cổ giúp chúng ta có thể hình chung một cách sơ bộ và khái quát về vùng đất này. Tân Uyên là một địa danh gắn liền với mảnh đất Đồng Nai- Gia Định xưa, là một huyện phía nam của tỉnh Bình Dương hiện nay.
Vốn là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, nên ngay từ thời tiền - sơ sử, nơi đây đã có con người đến tụ cư, sinh sống. Vết tích của những lớp người đi trước để lại khá nhiều trên địa phận huyện Tân Uyên ngày nay. Đó là những địa điểm cư trú và mộ táng với hàng ngàn hiện vật đã được các nhà khảo cổ tìm thấy như: thời đại cuối đá cũ đầu đá mới có lớp cư dân Vườn Dũ, bước sang thời đại đá mới - đầu đồ đồng thì có cư dân Cù lao Rùa - Gò Đá và chuyển sang thời đại kim khí hoàn toàn với sự tồn tại lớp cư dân Dốc Chùa, Phú Chánh… cư dân vùng đất Tân Uyên tiền - sơ sử với những mốc phát triển trên 11 đây là một bộ phận chủ nhân của một trong ba nền văn hoá kim khí nổi tiếng ở nước ta là văn hoá Đồng Nai (cùng văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh). Qua các di tích khảo cổ học ở Tân Uyên đã cho thấy cách đây hàng ngàn năm, con người nguyên thuỷ đã cùng nhau sinh sống và không ngừng lao động, sáng tạo.
“Người Vườn Dũ” là lớp người đầu tiên khai phá vùng đất Đông Nam bộ nói chung, Tân Uyên - Bình Dương nói riêng, cách ngày nay đã gần chục ngàn năm. “ Cộng đồng cư dân Vườn Dũ sống trong thời hậu kì đá cũ khi con người vừa thoát khỏi trạng thái người vượn và trở thành người “ khôn ngoan”. Với cuộc sống chủ yếu dựa vào săn bắt và hái lượm tài nguyên tự nhiên sẵn có, họ đã sử dụng công cụ đơn giản để chặt cây, đào rễ, bới cũ, lột da, xẻ thịt đồng thời làm sạch thực phẩm tự nhiên kiếm được…” [3; 138]. Cũng trên vùng đất này vào giai đoạn cường thịnh của người tiền sử - thời đại kim khí, di chỉ Dốc Chùa và cư dân sinh sống ở đây, có thể được coi là vị trí thuận lợi hàng đầu cho sự phát triển kinh tế, xã hội của cả vùng hạ lưu châu thổ sông Đồng Nai.
Các nhà khảo cổ học đã phát hiện ở đây là khu cư trú lâu dài, một xưởng thủ công đúc đồng có tầm cỡ, một khu mộ táng lớn có sưu tập di vật đồ đồng khuôn đúc nhiều nhất trong toàn vùng Đông Nam bộ. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khảo cổ học đã xác minh tại di tích Cù Lao Rùa vào giai đoạn này, người cổ xưa đã tạo ra một loại hình nghệ thuật bằng âm nhạc để phục vụ cho đời sống sinh hoạt tinh thần của cộng đồng và làm đẹp cho bản thân bằng trang sức, có nhu cầu thẩm mỹ, thông qua việc phát hiện ra đàn đá và các loại hình trang trí, hoa văn trên đồ gốm. Những di vật hàng ngàn năm bị chôn vùi dưới lòng đất hầu hết đều bị vỡ, bị mục rủn, bị phân hủy,… nhưng những hiện vật đó đã cho chúng ta biết rất nhiều về đời sống của người xưa trên mảnh đất chúng ta đang sống hôm nay. Xét về vị trí địa lí của các di chỉ như: Gò Đá hay còn gọi di chỉ Mỹ Lộc hoặc Gò Chùa ở địa phận thôn Mỹ Lộc (trước gọi là Lộc Dũ), xã Tân Hòa; di chỉ “ Gò Nổi” xưa còn gọi là “Gò Rùa”, “Gò mu Rùa”, “Đồi Rùa” thuộc địa phận xã Thạnh Phước; di chỉ Dốc Chùa hay còn gọi là Cầu Chùa ở xã Tân Mỹ… có thể xác định được cư dân trong giai đoạn này sống tập trung ở lưu vực ven sông Đồng Nai ngày nay.
Điều này chứng minh được sự thông minh và khả năng chinh phục, ứng phó với thiên nhiên của những lớp người đi trước. Họ biết lựa chọn địa điểm cư trú trên những vùng đất cao ở ven sông để không bị ngập nước khi nước sông dâng cao và 12 không bị thiếu nước khi thời tiết khô cạn. Đối với di chỉ ở Gò Đá có vị trí “Cách bờ phải dòng sông Đồng Nai khoảng 1km, cách con rạch nhỏ có dòng chảy đổ ra sông Đồng Nai về phía đông chỉ khoảng vài chục mét. Rõ ràng, nơi đây có địa hình cao thoáng, gần nguồn nước ngọt rất thuận lợi cho sinh hoạt lâu dài của con người” [4; 14].
Như vậy, không phải ngẫu nhiên mà họ lại chọn những vị trí này để sinh sống, do ở gần những con suối là nơi cung cấp nguồn nước vô tận để phục vụ đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất, nguồn cung cấp thức ăn vô cùng phong phú như cá, tôm, cua, ốc. Sông mang phù sa bồi đắp vùng đất ven bờ luôn màu mỡ tươi tốt thuân lợi cho việc trồng trọt cây lương thực, rau, củ, quả. Khác một chút so với cư dân ở Gò Đá thì ở Gò Nổi là “địa hình đơn độc nằm giữa dòng chảy ngay tại khúc quanh của con sông Đồng Nai” [4; 20]. Địa hình ở đây tuy có hơi nguy hiểm nhưng cũng có những lí do những thuận lợi mà chọn làm nên tụ cư, có thể hiểu rằng dòng chảy của các con sông là một hệ thống giao thông rất tiện lợi trong việc vận chuyển lương thực, sản phẩm, đặc biệt là giúp con người giao lưu với nhau.
Trong khoảng thời gian từ 4000 đến 2000 năm cách ngày nay, một thời gian dài trước khi người Việt đến khai phá vùng đất này thì những lớp người đi trước đã tụ cư sinh sống và bước đầu có quan hệ với nhiều cộng đồng khác nhau vùng lân cận, chính những lớp cư dân bản địa này đã góp phần quan trọng và quyết định tạo dựng nên nền văn hóa Óc Eo nổi tiếng ở Nam Bộ (I-VII). Tân Uyên thời bấy giờ và các vùng lân cận là vùng “đất rộng người thưa”, cho đến thế kỉ VIII - XV từ những di vật được lật lên từ lòng sông Đồng Nai, từ cù lao Tân Thạnh đến Biên Hòa, qua tài liệu khảo cổ học Biên Hòa là một thương cảng lớn, là nơi tụ hợp của nhiều sản phẩm từ xứ Khơme Thái, từ Champa, từ Đại Việt, từ Trung Hoa [3; 52]. Với những biến cố trong lịch sử, sự suy thoái dần của Champa, vùng hạ lưu sông Đồng Nai, sông Sài Gòn trở thành vùng đất sinh sống của nhiều tộc người khác nhau. Theo nhiều tư liệu, vùng đất Tân Uyên - Bình Dương trước thế kỉ XVII đã có hai tộc người sinh sống trên địa bàn cư trú là: người Stiêng và người Mạ… theo địa chí Sông Bé người Stiêng là cư dân bản địa xa xưa họ đã sinh sống tại đây, họ đã mở rộng quan hệ với nhiều cộng đồng khác nhau trong khu vực lân cận vì thế Tân Uyên nằm trên trục lưu thông của văn hóa [2; 18].
Công cuộc khẩn hoang, lập làng vùng đất Tân Uyên trong thế kỷ XVII - XVIII 1. Bối cảnh lịch sử 13 Tân Uyên là vùng đất trước đây thuộc Đồng Nai, nơi được thiên nhiên ưu ái với địa hình bằng phẳng, đất đai trù phú, giao thông thuận lợi… Tuy nhiên đến trước thế kỷ XVII, về cơ bản Tân Uyên vẫn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá. Điều này được Lê Quý Đôn miêu tả “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm” [12; 345]. Vì vậy đây là vùng đất rất lý tưởng cho những lớp cư dân người Việt vào định cư, sản xuất trong bối cảnh đất nước có nhiều biến động.
Đầu thế kỉ XVII đất nước ta diễn ra cuộc chiến tranh chấp quyền lực giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, cuộc giao tranh này kéo dài hơn nữa thế kỷ. Nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết phục vụ cho chiến tranh, chính quyền Trịnh - Nguyễn đã ra sức vơ vét nhân lực, vật lực, tài lực của dân chúng, gây nên cảnh đói khổ lầm than, cùng cực của nhân dân trên khắp cả nước. Về nhân lực: để đảm bảo lực lượng quân đội hùng hậu, cả hai tập đoàn phong kiến đã tiến hành một cách ráo riết và tràn lan việc bắt dân làm lính, việc này gây ảnh hưởng trầm trọng đến cuộc sống của nhân dân, đặc biệt là đối với những người nông dân nghèo khổ trong xã hội và thợ thủ công không có tài sản, thế lực để có điều kiện trốn tránh.