Tổng quan nghiên cứu

Trạm biến áp 220 kV Ninh Bình là nút truyền tải năng lượng đặc biệt quan trọng thuộc Công ty Truyền tải điện 1, sở hữu quy mô công suất 500 MVA với 2 máy biến áp tự ngẫu 250 MVA cấp điện áp 220/110/22 kV, 9 ngăn lộ 220 kV, 15 ngăn lộ 110 kV, 8 ngăn lộ 22 kV cùng hệ thống tụ bù tĩnh 110 kV dung lượng 56 MVAr. Trong quá trình vận hành liên tục phục vụ các khu công nghiệp trọng điểm như Xi măng Ninh Bình và KCN X18 Nho Quan, trạm thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ quá điện áp khí quyển nguy hiểm do sét đánh lan truyền từ các tuyến đường dây trên không, đặc biệt là xuất tuyến 220 kV Bỉm Sơn (đường dây 274). Sự cố phóng điện quá áp không chỉ đe dọa chọc thủng cách điện chuỗi sứ 750 kV và cuộn dây máy biến áp chính mà còn có thể làm tê liệt diện rộng lưới điện miền Bắc.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là ứng dụng phần mềm chuyên dụng để phân tích định lượng quá điện áp sét tại các điểm nút xung yếu, đánh giá ảnh hưởng của các thông số vật lý và xác lập cấu hình bảo vệ chống sét cấp 2 tối ưu cho trạm. Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát 4 khoảng cột đầu trạm (khoảng cách 1,6 km) của đường dây 274 nối vào trạm 220 kV Ninh Bình trong điều kiện vận hành thực tế. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc xây dựng phương pháp luận chuẩn xác để phối hợp cách điện, nâng cao chỉ số độ tin cậy cung cấp điện, đảm bảo tần suất sự cố trung bình (MTBF) do sét đạt tiêu chuẩn an toàn từ 50 đến 100 năm một lần, giảm thiểu tối đa tổn thất kinh tế do gián đoạn truyền tải điện năng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết truyền sóng điện từ dọc đường dây dài và giải hệ phương trình vi phân Laplace trong chế độ quá độ. Khi sét đánh vào đỉnh cột hoặc dây dẫn pha, sóng điện áp xung kích lan truyền với tổng trở sóng đường dây khoảng 300 đến 500 Ohm, tương tác với tổng trở sóng kênh sét khoảng 400 Ohm, tạo nên các hiện tượng phản xạ và khúc xạ điện áp phức tạp tại các điểm nút trạm biến áp. Đề tài áp dụng lý thuyết phân bố thống kê dòng điện sét theo hàm phân bố Log-chuẩn của Berger, Popolansky và chuẩn hóa bởi IEEE, với dòng điện đỉnh xung sét trung bình dao động từ 24 kA đến 31 kA, độ dốc đầu sóng cực đại đạt 24,3 kA/µs và dạng sóng tiêu chuẩn 1,2/50 µs.

Hệ thống lý thuyết phối hợp cách điện được triển khai đồng bộ theo tiêu chuẩn quốc tế IEC 60071 và IEC 60099-4 dựa trên nguyên lý 3 cấp bảo vệ năng lượng: Cấp 1 triệt tiêu sét đánh trực tiếp bằng cột và dây chống sét; Cấp 2 giới hạn biên độ điện áp dư sóng cắt bằng chống sét van ôxit kẽm (ZnO) không khe hở; Cấp 3 triệt tiêu xung cảm ứng bảo vệ thiết bị nhị thứ và điều khiển. Các khái niệm then chốt như quá điện áp đầu sóng dốc (Fast-Front Overvoltage), hiện tượng phóng điện ngược (Backflashover), đặc tính V-A phi tuyến của điện trở ZnO và hệ số dự trữ cách điện là cơ sở toán học để định lượng độ an toàn của thiết bị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu kỹ thuật thực tế từ Trạm biến áp 220 kV Ninh Bình, bao gồm thông số hình học của 5 vị trí cột điện cao 34 m, điện trở suất của đất vùng khảo sát trong khoảng 200 đến 300 Ohm.m (cục bộ đạt 500 Ohm.m), thông số 2 máy biến áp tự ngẫu 250 MVA và máy biến điện áp kiểu tụ 5,4 nF. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ chuỗi xung sét khảo sát trong 4 khoảng cột nguy hiểm đầu trạm xuất tuyến 274 (chiều dài trung bình mỗi khoảng cột là 400 m).

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích tại cung đoạn 1,6 km đầu vào trạm biến áp, bởi đây là vùng không gian có xác suất sét đánh gây xung sóng cắt nguy hiểm nhất truyền thẳng vào thiết bị trạm mà không bị suy giảm đáng kể. Phương pháp phân tích mô phỏng số miền thời gian được thực hiện trên phần mềm ATP-EMTP thông qua giao diện ATPDraw. Lý do lựa chọn ATP-EMTP là vì phần mềm này có khả năng giải quyết các mạng lưới điện phức tạp quy mô tới 6.000 nút, 10.000 nhánh và 2.250 phần tử phi tuyến, cho phép mô hình hóa chính xác mô đun LCC đường dây, mô hình BCTran máy biến áp và đặc tính bảo vệ quá độ tức thời với bước thời gian siêu nhỏ Delta T dưới 0,05 µs.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mô phỏng chế độ không trang bị chống sét van cho thấy khi xuất hiện dòng điện sét 31 kA đánh vào đỉnh cột cuối giáp trạm, biên độ quá điện áp tác động lên đầu cực máy biến áp AT1 vượt ngưỡng 1.200 kV, cao hơn 160% so với mức chịu đựng xung sét cơ bản 750 kV của cách điện, dẫn đến nguy cơ chọc thủng cách điện tuyệt đối.

Thứ hai, điện trở nối đất chân cột (RC) đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát điện áp phóng điện ngược: khi điện trở RC tăng từ 10 Ohm lên 30 Ohm, biên độ quá điện áp trên đầu cực máy biến áp tăng thêm từ 35% đến 48%, làm tăng đột biến khả năng phóng điện từ thân cột vào dây pha.

Thứ ba, vị trí điểm sét đánh có ảnh hưởng tỷ lệ nghịch với mức độ an toàn: sét đánh tại khoảng cột số 1 và số 2 (cách trạm dưới 800 m) tạo ra độ dốc đầu sóng lớn hơn 20 kA/µs, trong khi sét đánh ngoài khoảng cột số 4 (cách trạm trên 1.600 m) có biên độ quá điện áp khi truyền tới trạm suy giảm hơn 25% nhờ điện dung phân bố và tổn hao dọc đường dây.

Thứ tư, khi trang bị đầy đủ cấu hình bảo vệ gồm 6 chống sét van ZnO tại các vị trí đầu cực máy biến áp AT1, AT2, thanh cái C21, C22 và các xuất tuyến, điện áp dư tại đầu cực máy biến áp được ghim chặt ở mức dưới 536 kV tại dòng xả danh định 10 kA, nâng mức dự trữ cách điện của thiết bị lên trên 40% so với giới hạn nguy hiểm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng điện áp tại các nút trạm khi chưa có thiết bị bảo vệ là do hiện tượng phản xạ sóng liên tục tại các điểm tiếp giáp tổng trở sóng hở mạch và đầu vào cuộn dây máy biến áp. Sự tham gia của máy biến điện áp kiểu tụ dung lượng 5,4 nF trên thanh cái đóng vai trò dung kháng làm tù đầu sóng, giúp làm giảm độ dốc của sóng quá áp khoảng 12% đến 18% trước khi tiến vào máy biến áp.

Các phát hiện này hoàn toàn có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ dạng sóng điện áp theo thời gian (U-t) từ 0 đến 50 µs để đối chiếu rõ nét đỉnh xung điện áp giữa kịch bản không lắp đặt chống sét van và kịch bản có lắp đặt chống sét van ZnO. Đồng thời, dữ liệu có thể tổng hợp thành bảng ma trận so sánh hệ số an toàn cho từng thiết bị (TU274, TUC21, AT1) ứng với các mức điện trở đất 5 Ohm, 10 Ohm, 20 Ohm và 30 Ohm. So với các công trình nghiên cứu lưới điện 220 kV trước đây và các khuyến nghị trong tiêu chuẩn IEC 60071, kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng phương án lắp đặt 6 chống sét van ZnO không khe hở là giải pháp tối ưu nhất, đảm bảo hệ số an toàn vận hành kdt luôn lớn hơn 1,25.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện nâng cấp và thay thế toàn bộ hệ thống chống sét van cũ bằng loại chống sét van ôxit kẽm ZnO không khe hở 3EL2 228-2P.3 đạt chuẩn IEC 60099-4 (điện áp định mức Ur = 228 kV, dòng xả danh định 10 kA, điện áp dư giới hạn dưới 536 kV) tại 100% đầu vào máy biến áp AT1, AT2 và thanh góp C21-C22; mục tiêu hoàn thành trong Quý 2 năm 2021 do Công ty Truyền tải điện 1 trực tiếp chỉ đạo triển khai.

Thứ hai, cải tạo và xử lý hệ thống tiếp địa chân cột cho 5 vị trí cột đầu trạm tuyến 274 bằng phương pháp đóng cọc tiếp địa tầng sâu kết hợp rải tia mạch vòng, hạ trị số điện trở nối đất chân cột từ mức trên 15 Ohm xuống dưới 10 Ohm (hướng tới mục tiêu đạt dưới 7 Ohm); hoàn tất trước mùa mưa bão năm 2021 dưới sự giám sát của Đội Truyền tải điện Ninh Bình.

Thứ ba, trang bị hệ thống tự động đo ghi và phân tích sóng quá độ điện từ (Digital Fault Recorder) trực tiếp tại thanh cái 220 kV với tần số lấy mẫu tối thiểu 10 MHz nhằm giám sát liên tục biên độ xung sét và phát hiện sớm 95% hiện tượng lão hóa cách điện; tiến độ triển khai giai đoạn 2021 - 2022 do Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia thẩm định.

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình bảo dưỡng định kỳ dựa trên tình trạng thiết bị (CBM), định kỳ 6 tháng một lần thực hiện đo kiểm dòng rò điện trở của chống sét van ZnO và thử nghiệm xung cách điện chuỗi sứ 750 kV, duy trì hệ số dự trữ cách điện kdt luôn lớn hơn hoặc bằng 1,25; đơn vị vận hành trạm 220 kV Ninh Bình chịu trách nhiệm thực thi thường xuyên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm kỹ sư thiết kế và tư vấn hệ thống điện: Luận văn cung cấp phương pháp luận và thông số tính toán mô phỏng bằng ATPDraw giúp tối ưu hóa sơ đồ mặt bằng trạm biến áp, xác định chính xác số lượng và khoảng cách lắp đặt chống sét van cho các trạm 110 kV, 220 kV và 500 kV xây mới.

Nhóm cán bộ quản lý và vận hành lưới truyền tải: Tài liệu là cẩm nang thực tiễn giúp đánh giá mức độ suy giảm cách điện, kiểm soát điện trở tiếp địa các khoảng cột đầu trạm và chủ động lập kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng ngăn ngừa sự cố sét đánh lan truyền.

Nhóm học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kỹ thuật điện: Nghiên cứu là nguồn tài liệu học thuật giá trị về kỹ thuật mô hình hóa quá độ điện từ, ứng dụng hàm phân bố thống kê dòng điện sét Log-chuẩn và phân tích phi tuyến của vật liệu ZnO.

Nhóm chuyên gia thẩm định và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, bổ sung và hoàn thiện các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bảo vệ chống sét và phối hợp cách điện trong hệ thống truyền tải điện Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Sét đánh tại vị trí nào trên đường dây gây nguy hiểm lớn nhất cho trạm biến áp? Sét đánh trong phạm vi 4 khoảng cột đầu trạm (khoảng 1,6 km) là nguy hiểm nhất. Ở khoảng cách gần này, sóng quá áp có độ dốc đầu sóng lớn trên 20 kA/µs truyền thẳng vào trạm mà không kịp suy hao trên dây dẫn, tạo xung điện áp vượt 1.200 kV phá hủy cách điện thiết bị.

Tại sao chống sét van ZnO không khe hở lại được ưu tiên lựa chọn thay thế loại SiC? Chống sét van ZnO sở hữu đặc tính V-A phi tuyến vượt bậc, duy trì dòng rò ở mức micro-ampe ở điện áp làm việc mà không cần khe hở phóng điện. Khi có xung sét 10 kA, thiết bị ghìm điện áp dư ở mức an toàn 536 kV và dập tắt tức thì dòng duy trì tần số 50 Hz.

Điện trở chân cột tại các cột điện đầu trạm có ý nghĩa như thế nào trong phối hợp cách điện? Điện trở chân cột quyết định điện thế xuất hiện trên thân cột khi sét đánh. Nếu điện trở chân cột vượt quá 10 Ohm, điện áp trên thân cột tăng cao dẫn đến hiện tượng phóng điện ngược từ thân cột vào dây pha, đẩy thêm 35% đến 48% biên độ sóng quá áp tràn vào trạm biến áp.

Máy biến điện áp kiểu tụ (CVT) hỗ trợ bảo vệ quá điện áp trong trạm ra sao? Máy biến điện áp kiểu tụ có giá trị điện dung tương đương khoảng 5,4 nF mắc song song trên thanh cái. Điện dung này đóng vai trò như một bộ tụ lọc xung, giúp làm giảm độ dốc của đầu sóng sét từ 12% đến 18%, hạn chế ứng suất điện áp tác động lên cuộn sơ cấp máy biến áp chính.

Hệ số dự trữ cách điện an toàn cho máy biến áp 220 kV cần đạt giá trị bao nhiêu? Theo tiêu chuẩn IEC 60071 và kết quả mô phỏng đề tài, hệ số dự trữ cách điện an toàn kdt của máy biến áp 220 kV phải đạt tối thiểu từ 1,20 đến 1,25. Khi lắp đặt đủ 6 chống sét van ZnO trong trạm, hệ số này đạt trên 1,35, đảm bảo an toàn vận hành tuyệt đối.

Kết luận

  • Xây dựng thành công mô hình mô phỏng số chi tiết trạm biến áp 220 kV Ninh Bình trên phần mềm ATP-EMTP/ATPDraw với đầy đủ các phần tử phi tuyến và 4 khoảng cột xuất tuyến 274.
  • Xác định định lượng biên độ quá điện áp sét cực đại khi không có bảo vệ vượt 1.200 kV, đe dọa nghiêm trọng tới cách điện 750 kV của trạm.
  • Chứng minh tính quyết định của việc duy trì điện trở tiếp địa chân cột dưới 10 Ohm nhằm triệt tiêu nguy cơ phóng điện ngược vào dây pha.
  • Thiết lập cấu hình bảo vệ tối ưu bằng 6 chống sét van ZnO không khe hở, khống chế điện áp dư dưới 536 kV và nâng hệ số dự trữ cách điện lên trên 1,35.
  • Đóng góp giải pháp kỹ thuật thực tiễn nâng cao độ tin cậy cung cấp nguồn điện công suất 500 MVA phục vụ phát triển kinh tế khu vực miền Bắc.

Đóng góp chính của luận văn là làm chủ công cụ mô phỏng hiện đại để giải quyết bài toán phối hợp cách điện thực tế tại trạm biến áp cao áp. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2021 - 2022 là mở rộng mô hình cho toàn bộ 9 ngăn lộ 220 kV và 15 ngăn lộ 110 kV của trạm. Các đơn vị tư vấn và quản lý vận hành truyền tải hãy ứng dụng ngay mô hình tính toán và giải pháp bố trí chống sét van của đề tài để chuẩn hóa an toàn cho các công trình trạm biến áp cao áp trên toàn quốc.