CHƯƠNG 1.1 Mối quan hệ của tuyến đường dây với Quy hoạch điện Theo tiêu chí phát triển lưới điện 110kV, 220kV của Thành phố Hà Nội được Bộ Công Thương phê duyệt tại Quyết định phê duyệt số 4720/QĐ-BCT ngày 02/12/2016, lưới điện từ vành đai 3 trở vào trung tâm Thành phố phải được hạ ngầm toàn bộ để góp phần xây dựng diện mao đô thị văn minh hiện đại. Trên cơ sở tốc độ tăng trưởng của phụ tải điện thành phố Hà Nội và lưới điện cao áp của thành phố Hà Nội đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt, việc đưa vào vận hành Đường dây cáp ngầm 220kV từ Long Biên - Mai Động có tác dụng hỗ trợ cấp điện và bổ sung nguồn cho vùng 1 (vùng phụ tải trung tâm) trong các chế độ vận hành bình thường cũng như sự cố hết sức là cần thiết. Đồng thời, Đường dây cáp ngầm 220kV Long Biên – Mai Động đảm bảo cấp điện cho trạm 220kV Gia Lâm - trạm cấp nguồn cho các phụ tải của KĐT Vincity Ocean Gia Lâm.1: Sơ đồ địa dư kết lưới của Đường dây 220kV Long Biên – Mai Động 1.2 Tuyến đường dây được thỏa thuận với UBND thành phố Tuyến cáp ngầm 220kV Long Biên – Mai Động, xuất phát từ vị trí trạm 220kV Long Biên, đặt gần khu tái định cư Giang Biên (gần đường Đê vàng) và kết thúc tại trạm 220kV Mai Động, đặt tại đường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai với tổng chiều dài là 15,3km. Tuyến cáp ngầm chủ yếu đi dưới lòng đường thuộc địa phận thành phố Hà Nội như: đường Mai Chí Thọ, Hội Xá, đường gom Quốc Lộ 1, Lĩnh Nam, Đường 5 tạm Vĩnh Hoàng.
Do tuyến đi ngầm dưới lòng đường nên giao chéo với nhiều công trình ngầm như: hệ thống thông tin viễn thông, tuyến cáp ngầm 110kV, tuyến cáp điện trung áp và hạ áp, hệ thống cung cấp nước, hệ thống thoát nước và các hạng mục khác có liên quan… nằm xen kẽ với nhau. TBA 220kV Long Biên TBA 220kV Mai Động Hình 1.2: Hướng tuyến đường dây sau theo thỏa thuận của UBND Tp.3 Tổng quan về quá điện áp trong hệ thống Quá điện áp (QĐA) được hiểu là các nhiễu loạn xếp chồng lên điện áp làm việc của hệ thống điện. Quá điện áp trong hệ thống điện là hiện tượng điện áp tăng quá định mức (110%) là nguyên nhân phổ biến gây nên hư hỏng các thiết bị trong hệ thống điện và làm giảm hiệu quả cung cấp điện liên tục của hệ thống. Trong hệ thống điện có các loại quá điện áp như: - QĐA duy trì: Xuất hiện trên các đường dây truyền tải, có tần số tương ứng với tần số công nghiệp và duy trì trong thời gian dài.
- QĐA nội bộ (đóng cắt): Xuất hiện do thao tác, đóng cắt, sự cố ngắn mạch. - QĐA khí quyển: Xuất hiện do dòng điện (điện áp sét gây ra) 1.4 Quá điện áp duy trì Khi đường dây dài vận hành không tải và hở mạch cuối. Khi cho công suất nguồn lớn vô cùng thì điện áp tại nút 1 sẽ giữ là hằng số.3: Đường dây dài vận hành không tải 6 Điện áp tại nút 2 sẽ được xác định theo phương trình đường dây dài [4]: = U ch ( β + jα ) l U 1 2 U PT 1.1 = U 1 = U ( A − jB ) ch ( β + jα ) l 2 1 Trong đó chβ1 cos α1 A= cos 2 α l + sh 2 β l PT 1.2 shβ1 sin α1 B= cos 2 α l + sh 2 β l U2 Gọi K = là bội số QĐA ta có: U1 1 K= A2 + B 2 = PT 1.3 cos α l + sh β l 2 2 1 Nếu không xét đến tổn hao thì K =. Do K > 1 nên U2 > U1 nghĩa là có cosα l QĐA ở cuối đường dây.5 Quá điện áp đóng cắt Trong mục 1.4 đã trình bày dạng quá điện áp duy trì, nó có tần số bằng hoặc tương đương tần số công nghiệp và duy trì trong thời gian dài.
Trong mục này luận văn sẽ trình bày dạng quá điện áp đóng cắt xuất hiện trong quá trình quá độ của thao tác đóng mạch đường dây dài. Hệ thống điện được xem như 1 tổng thể gồm nhiều phần tử R, L, C, các thao tác đóng cắt hệ thống sẽ gây nên sự thay đổi những thông số của mạch điện và làm xuất hiện các quá trình quá độ bằng dao động L - C. Những dao động này (dao động cao tần) sẽ gây nên quá điện áp quá độ (Transient Overvoltage). Theo [4], đưa ra các trị số cơ sơ của QĐA đóng cắt (theo đơn vị tương đối pu), các số liệu cơ sở để tính toán lựa chọn.
Điện áp định mức (kV) 110-220 500 QĐA đóng cắt (pu) 3 2,5 Bảng 1: Trị số quá điện áp đóng cắt Trong quá trình vận hành các đường dây cao áp, siêu cao áp vấn đề QĐA đóng cắt càng trở lên nghiêm trọng với các lý do: - Khi đường dây không tải hoặc hở mạch ở đầu cuối, dòng điện trên đường dây là dòng điện dung (Ic). Dòng điện này khi đi qua điện kháng của nguồn và đường dây sẽ gây tăng áp phía đường dây. Vì độ lớn của dòng điện điện dung tỷ lệ với chiều dài đường dây nên khi đường dây càng dài thì hậu quả gây tăng áp càng nghiêm trọng. 7 Đóng nguồn U0 vào đường dây dài hở mạch ở cuối Hình 1.4: Đóng nguồn áp U0 vào đường dây dài hở mạch ở cuối Theo [4], kết quả điện áp ở dạng tổng quát như sau: ∞ x, t ) U 0 1 − ∑ AK cosϖ k t u (= k =0 2k + 1 l − x ( −1) cos k PT 1.4 AK = 2 l 4 2k + 1 π 2k + 1 l ϖk = π 2 v Điện áp u(x,t) gồm thành phần xác lập và thành phần quá độ hình thành bởi các dao động có biên độ dao động AK và tần số ϖK.
Biên độ AK phụ thuộc vào tọa độ x nên nó gắn liền với phân bố áp dọc theo đường dây. Biên độ AK còn phụ thuộc vào bậc của dao động. Ứng với tần số dao động cơ bản (k=0) và x=l sẽ có AK = 4/π điều đó chứng tỏ rằng biên độ của dao động ở tần số này còn lớn hơn điện áp nguồn. Tần số dao động còn được xác định theo: = fk ( 2k + 1) f0 PT 1.5 v f0 = 4l Trong đó v là tốc độ truyền song, có giá trị bằng tốc độ ánh sang (300m/µs).
Tần số f0 là tần số dao động cơ bản, các tần số này đề phụ thuộc vào chiều dài đường dây và bậc của dao động. Chiều dài đường dây l 300 500 1000 1500 3000 (km) Tần số dao động f0 (Hz) 250 150 75 50 25 Bảng 1: Tần số dao động cơ bản theo chiều dài Với chiều dài tuyến là 1500km sẽ là chiều dài cộng hưởng ở tần số công nghiệp, còn chiều dài 500km là chiều dài cộng hưởng ở tần số 3f (sóng điều hòa bậc 3) của điện áp xoay chiều trong hệ thống điện. Với các chiều dài trên sẽ hiện tượng cộng hưởng tần số sẽ gây nên quá điện áp. Đóng nguồn xoay chiều vào đường dây dài hở mạch ở cuối Từ kết quả ở mục 1.1 sẽ được nghiệm ứng với nguồn áp 1(t): 8 ∞ u ( x, t ) = 1 − ∑ AK cosϖ k t PT 1.6 k =0 Theo [4], Điện áp ứng khi cho nguồn áp f(t) sẽ được xác định: ∞ ϖ K sin ϖ K t − ϖ sin ϖ t u ( x, t ) U m sin ϖ t − ϖ U m ∑ AK = k =0 ϖ K −ϖ 2 2 PT 1.
Sự cộng hưởng đó là nguyên nhân dây nên quá điện áp duy trì ở chế độ xác lập.6 Quá điện áp khí quyển Nguồn gây nên quá điện áp khí quyển trong hệ thống điện (HTĐ) là phóng điện sét giữa mây dông và mặt đất. Cũng như bất kỳ một kích động điện từ nào vào HTĐ: quá trình đóng cắt bình thường, khi xảy ra sự cố… phóng điện sét gây nên sóng điện từ. Sóng điện từ xuất phát từ nơi sét đén truyền dọc theo đường dây tải điện, gây nên quá điện áp tác dụng đối với cách điện đường dây. Trường hợp sét đánh trực tiếp vào dây dẫn, thì trị số của QĐA phụ thuộc vào biên độ dòng sét có thể lên đến hàng triệu có khi đến hàng chục triệu volt, vượt quá nhiều lần mức cách điện xung quá điện áp của đường dây, trạm biến áp.
Trường hợp sét đánh gần đường dây gây nên điện áp cảm ứng có biên độ tương đối bé, cao nhất khoảng vài trăm ngàn volt, nên thực tế chỉ nguy hiểm đối với cách điện của các cấp điện áp từ 35kV trở xuống. Sóng QĐA xuất hiện trên đường dây lan truyền đến trạm biến áp sẽ tác dụng lên cách điện của các thiết bị trong trạm. Để bảo đảm sự làm việc liên tục của đường dây và sự an toàn của các thiết bị trong trạm biên áp, do đó cần phải có những biện pháp chống sét có hiệu quả và thích hợp cho đường dây tải điện và trạm phân phối. Sét đánh trực tiếp vào dây dẫn của đường dây tải điện, vào các thiết bị và bộ phận mang điện của nhà máy điện và trạm biến áp sẽ gây nên quá điện áp nguy hiểm, làm ngắn mạch, chạm đất các pha, làm hư hỏng cách điện của các thiết bị, gây gián đoạn sự cung cấp điện cho các hộ tiêu thụ điện, làm thiệt hại cho nền kinh tế.
Vì vậy phải bảo vệ các hệ thống điện chống sét đánh trực tiếp: - Sử dụng cột thu sét hoặc dây chống sét để bảo vệ sét đánh trực tiếp. - Sử dụng chống sét van; giảm điện trở nối đất cột để tản dòng điện sét.7 Các nghiên cứu liên quan về quá điện áp Hiện này trong nước đã có rất nhiều bài báo, luận văn nghiên cứu tìm hiểu về QĐA ví dụ như: - Bài báo “Nghiên cứu điện áp quá độ phục hồi trong hệ thống điện Việt Nam” của Nguyễn Hồng Anh, Lê Cao Quyền, Trần Quốc Tuấn năm 2014 [5].