Đặt vấn đề Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới. Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm dược tính mạnh nguồn gốc từ thực vật [4]. Ở Trung Quốc, ngoài nền y học cổ truyền chính thống của người Hán (Trung y), các cộng đồng không phải người Hán, với dân số khoảng 100 triệu người, cũng có các nền y học riêng của mình, gọi là y học dân tộc cổ truyền (Traditional Ethno- medicine) sử dụng khoảng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc. Trong đó, có 5 nền y học chính là y học cổ truyền Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài), Ugur, Thái (800 loài) [7].
Theo Võ Văn Chi đất nước Việt Nam ta có nguồn dược liệu rất phong phú lên đến trên 4.000 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc; 52 loài tảo biển, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc, trong đó có nhiều loài cây thuốc được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới như: Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạc Vĩnh Phú… [10]. Số liệu thống kê của tổng cục thống kê cho biết, trong năm 2014, doanh thu sản xuất thuốc từ dược liệu tại Việt Nam đạt 3. Đánh giá tại một số vùng trồng cây dược liệu ở nước ta đã cho ta thấy giá trị kinh tế to lớn mà cây dược liệu mang lại lớn hơn bất kỳ cây lương thực, thực phẩm nào (có thể thu nhập trên 100 triệu n 2 đồng/ha). Ở Việt Yên (tỉnh Bắc Giang), mô hình trồng cây Kim Tiền Thảo là hướng mới trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở tỉnh và đã thực sự góp phần giảm nghèo cho người dân nơi đây.
Nhưng thực trạng hiện nay cho ta thấy tình trạng khái thác quá mức và khai khác rừng bừa bãi của người dân đã dẫn đến tình trạng 1 số cây thuốc quý đang ngày càng khan hiếm như: Đương Quy, Hoàng Đằng, Hoàng Bá, Hà Thủ Ô, Râu Mèo,. Cho nên, việc thúc đẩy và không ngừng phát triển công tác nghiên cứu trồng cây thuốc là một yêu cầu cấp bách hiện nay. Cây râu mèo Việt Nam có tên khoa học là Orthosiphon stamineus Benth, tên khác Orthosiphon spiralis (Lour.) Mer, còn có tên gọi là Bông Bạc, thuộc họ Hoa môi Lamiaceae. Từ lâu, trong dân gian đã lưu truyền về tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu của cây râu mèo.
Trong chiến lược phát triển ngành dược của Bộ Y tế, cây râu mèo được xếp vào loại cây hiếm cần được bảo vệ và phát triển nguồn gen. Tuy nhiên, cho đến nay, những công bố của các nhà y học về dược lý cây râu mèo không nhiều. Do những tác dụng tuyệt vời mà râu mèo mang lại nên người dân địa phương thường khai thác cây râu mèo từ ngoài tự nhiên. Tuy vậy, nguồn dược liệu ngày càng trở nên khan hiếm hơn do khai thác không hợp lý làm hạn chế khả năng tái sinh của cây.
Mặt khác chất lượng dược liệu khai thác không ổn định do sự sinh trưởng của cây không đồng đều, điều đó đã ảnh hưởng đến chất lượng dược liệu và kết quả không cao trong điều trị bệnh. Nghiên cứu đưa cây râu mèo vào nhân giống và trồng trọt sẽ góp phần chủ động nguồn nguyên liệu làm thuốc và nâng cao chất lượng dược liệu đưa công tác sản xuất dược liệu cây râu mèo dần đi vào ổn định về số lượng và chất lượng. Xuất phát từ nhu cầu thực tế muốn phát triển trồng cây râu mèo rộng n 3 rãi, tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc và chủ động được nguồn giống cho sản xuất lâu dài chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phƣơng thức nhân giống của cây râu mèo tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục đích Xác định được phương thức nhân giống cây râu mèo từ đó lựa chọn được hình thức nhân giống đạt hiệu quả cao trên cây dược liệu râu mèo tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu - Đánh giá khả năng nhân giống từ hạt của cây râu mèo. - Đánh giá khả năng nhân giống từ hom của cây râu mèo. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Kết quả nghiên cứu giúp lựa chọn phương thức nhân giống thích hợp nhất cho cây râu mèo.
- Làm cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu chọn tạo giống và nghiên cứu các các biện pháp kỹ thuật khác cũng như là cơ sở khoa học trong điều trị và chữa bệnh bằng dược liệu. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm tăng năng suất cho giống râu mèo tại Đông Hỷ Thái Nguyên thông qua việc lựa chọn phương thức nhân giống thích hợp để trồng cây râu mèo. - Kết quả góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống râu mèo, bổ sung tài liệu cho quá trình nghiên cứu và là cơ sở khoa học trong điều trị và chữa bệnh của cây râu mèo. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học 2. Cơ sở khoa học của phương pháp nhân giống hữu tính Nhân giống hữu tính là hình thức nhân giống bằng hạt, kết quả dung hợp của giao tử đực (hạt phấn) và giao tử cái (tế bào trứng). Hạt được phân loại theo nguồn gốc hạt phấn tham gia vào quá trình thụ phấn, thụ tinh.
Hạt tự thụ hình thành khi hạt phấn kết hợp với giao tử cái tạo ra trên cùng một cây. Hạt giao phấn hình thành khi hạt phấn của cây này thụ tinh cho giao tử cái của cây kia. Cơ sở khoa học của phương pháp nhân giống vô tính Trên thế giới râu mèo là cây nhiệt đới tương đối điển hình, mọc tự nhiên phổ biến ở Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, các nước ở Đông Dương và cả ở Châu Phi. Cây còn được trồng ở Cu Ba và Việt Nam.
Ở Việt Nam, râu mèo phân bố rải rác ở vùng đồng bằng và miền núi như: Cao Bằng, Thanh Hoá (Vĩnh Lộc), Hà Tây (Ba Vì), Lâm Đồng, Phú Yên (Tuy Hoà), Vũng Tàu - Côn Đảo (Bà Rịa), Ninh Thuận (Phan Rang), Kiên Giang (Phú Quốc)… [1] Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc trên đất giàu chất mùn. Cây phân bố ở những nơi có độ cao từ 10 m (ở Phú Yên) đến 600 m (ở Cao Bằng) so với mực nước biển. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè.[1] Giâm cành là một phương pháp nhân giống vô tính mà trong đó người ta tách các cơ quan dinh dưỡng như cành, thân, thân ngầm, thân rễ và tác n 5 động các biện pháp kỹ thuật để tạo ra rễ bất định để có cây con có khả năng sống độc lập với cây mẹ, sinh trưởng phát triển tốt mà vẫn giữ được những đặc tính ban đầu của giống điều này đặc biệt quan trọng đối với cây thuốc. Phương pháp này dựa vào hiện tượng cực tính, khả năng tái sinh của thực vật và đặc tính độc lập từ một bộ phận dinh dưỡng ngay cả một tế bào nhỏ bé cũng có thể tái sinh, phân chia tạo cơ thể hoàn chính đó chính là nhờ tính toàn năng của tế bào.
Như vậy, phương pháp giâm cành là phương pháp nhân giống thực vật bằng cơ quan dinh dưỡng. Khi đặt cơ quan dinh dưỡng trong điều kiện thích hợp (giá thể, độ ẩm, ánh sáng, dinh dưỡng…) thì chúng sẽ phân chia tế bào khôi phục những bộ phận còn thiếu trở thành một cơ thể hoàn chỉnh. Khả năng này phụ thuộc vào tính toàn năng và sự phản phân hóa. Haberland (1902) lần đầu tiên quan niệm rằng mỗi tế bào bất kỳ của một cơ thể sinh vật đều có khả năng tiềm tàng để phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh.
Theo quan niệm của sinh học hiện đại thì mỗi tế bào riêng rẽ đã được phân hoá đều chứa toàn bộ lượng thông tin di truyền (AND) cần thiết của cả cơ thể thực vật đó đều có khả năng phát triển hoàn chỉnh tạo thành một cá thể gọi là tính toàn năng của tế bào thực vật.sil, Hondebrond (1965) thì tính toàn năng của mọi tế bào cho biết mọi tế bào sống đều chứa đầy đủ thông tin di truyền để tái sinh các bộ phận chức năng của cây.Libbert 1987 khẳng định tính phản phân hóa là khả năng trở lại trạng thái Meristem và phát triển thành những điểm sinh trưởng của các tế bào đã trưởng thành (sự phản phân hoá). Theo Libbere 1976 thì cơ chế hình thành và phát triển của rễ bất định phải trải qua ba giai đoạn: Khi có tác động cắt cành thì auxin sẽ được hình thành một cách nhanh chóng tại đỉnh sinh trưởng và các cơ quan non, sau đó qua quá trình hình n 6 thành mạch libe thì auxin được vận chuyển tới vết cắt của cành giâm để kích thích tạo thành rễ bất định. Người ta chia việc hình thành rễ bất định thành ba giai đoạn: Giai đoạn phản phân hoá của tế bào tượng tầng trở lại, chức năng phân chia mô phân sinh tạo khối tế bào bất định (callus). Lượng auxin lớn để phản phân hóa tế bào (10-6 - 10-5 g/cm3).
Giai đoạn tái phân hóa: Các tế bào bất định tái phân hóa hình thành rễ mầm bất định cần lượng auxin thấp hơn 910-7 g/cm3. Giai đoạn sinh trưởng của mầm rễ để hình thành rễ bất định. Lượng auxin cần thấp (10-10 - 10-12 g/cm3) hoặc không cần. Thường sử dụng các chất thuộc nhóm auxin ngoại sinh để kích thích sự tạo rễ bất định nhanh và hiệu quả trong kích thích giâm cành: TBA, αNAA, 2,4D.
Theo Oparin miêu tả như sau: Ngay sau khi cắt cành giâm không cho nhựa luyện vận chuyển từ trên xuống dưới, các sản phẩm của quá trình quang hợp trong đó có auxin được tích tụ trong các tế bào màng mỏng làm kích thích hoạt động của tượng tầng mô sẹo (callus) gặp điều kiện thuận lợi sẽ hình thành rễ bất định. Theo quan điểm của di truyền học về sự phát triển của cá thể thì quá trình tạo mới trong quá trình phát triển cá thể được thực hiện bằng con đường thi hành các chương trình di truyền được mã hoá trong cấu trúc phân tử AND và sự điều chỉnh thực hiện đó trong suốt quá trình sống của cá thể thông qua việc điều hoà sinh tổng hợp Protein Enzim và Protein cấu trúc. Người ta xác định rằng trong các tế bào phân hoá khác nhau của một cây chứa lượng AND giống nhau.