CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Lý thuyết cân bằng pha lỏng rắn 1.1 Tính chất của dung dịch loãng chất tan không bay hơi Ảnh hưởng của nồng độ các chất tan hầu như không bay hơi đến sự thay đổi tính chất dung dịch thông qua các hiện tượng: áp suất hơi bão hòa, nhiệt độ sôi, nhiệt độ đông đặc và áp suất thẩm thấu.1 Áp suất hơi bão hòa của dung dịch Áp suất hơi bão hòa của dung dịch tỉ lệ thuận với áp suất hơi bão hòa của dung môi nguyên chất và nồng độ phần mol của dung môi. Độ giảm tương đối áp suất hơi của dung dịch tuân theo định luật Raoult 1, nó bằng tổng phần mol của chất tan không bay hơi trong dung dịch. Công thức tính áp suất hơi bão hòa P = P1 = 𝑃1𝑜 .(1 – x2) Trong đó: x1 là nồng độ phần mol của dung môi trong dung dịch x2 là nồng độ phần mol của chất tan trong dung dịch 𝑃1𝑜 là áp suất hơi bão hòa của dung môi nguyên chất P1 là áp suất hơi bão hòa của dung dịch. Như vậy khi nồng độ dung dịch càng lớn thì áp suất hơi càng thấp.
Từ phép đo độ giảm độ giảm áp suất hơi của dug dịch ta có thể xác định khối lượng phân tử của các chất tan có trong dung dịch. Phương pháp này được gọi là phương pháp nghiệm áp [1].2 Độ tăng điểm sôi và độ hạ điểm kết tinh Độ tăng điểm sôi và độ hạ điểm kết tinh tỉ lệ thuận với nồng độ molan của chất tan trong dung dịch theo định luật Raoult 2.Cm 4 Ta có thể xác định khối lượng phân tử của chất tan không bay hơi trong dung dịch dựa vào độ tăng điểm sôi hoặc độ giảm điểm đông đặc. Hai phương pháp này gọi là phép nghiệm sôi hoặc phép nghiệm lạnh [1].3 Áp suất thẩm thấu Áp suất thẩm thấu của một dung dịch là áp suất tác động lên màng bán thấm phân cách giữa dung dịch và dung môi nguyên chất để dung dịch nằm cân bằng trong hệ. Áp suất thẩm thấu tỉ lệ thuận với nồng độ chất tan và nhiệt độ tuyệt đối của dung dịch theo định luật VanHoff.
Công thức áp suất thẩm thấu π = CRT Trong đó: C là nồng độ chất tan (mol/L) T là nhiệt độ tuyệt đối của dung dịch (K) R là hằng số khí. Dựa vào áp suất thẩm thấu của dung dịch ta có thể xác định khối lượng phân tử của chất tan không bay hơi trong dung dịch. Phương pháp này được gọi là phép nghiệm thẩm thấu [1].2 Độ tan (Solubility) Độ tan là đại lượng thể hiện mức độ hoà tan của một chất ở dạng rắn, lỏng hoặc khí vào dung môi để tạo thành một dung dịch đồng nhất. Độ tan còn được hiểu là số gam chất tan (chất rắn) hoà tan hoàn toàn vào một lượng dung dịch nhất định để dung dịch trở nên bão hòa ở một điều kiện xác định.
𝑚𝑐𝑡 Công thức tính độ tan S = 𝑚𝑑𝑚 Trong đó: mct là khối lượng chất tan mdm là khối lượng dung môi. Các yếu tổ ảnh hưởng đến độ tan của chất rắn bao gồm nhiệt độ, dạng thù hình, hiện tượng hydrat hóa và độ pH. Trong đó nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến độ tan. Đối với các chất rắn thu nhiệt khi nhiệt độ càng cao thì độ tan càng lớn và ngược lại.1 Độ tan của một số muối theo nhiệt độ Độ tan là yếu tố quan trong trong quá trình kết tinh.
Ta có thể xác định được lượng chất tan cần thiết cho quá trình kết tinh dựa vào độ tan. Trong công nghiệp quá trình kết tinh thường được diễn ra trong dung dịch có chứa tạp chất do đó không thể xác định chính xác độ tan dựa trên các nguồn dữ liệu có sẵn. Vì vậy chỉ có tiến hành thực nghiệm trong các điều kiện khác nhau mới có thể xác định chính xác được độ tan. Có 2 phương pháp xác định độ tan: phương pháp đẳng nhiệt và phương pháp đa nhiệt.2 Sự kết tinh của dung dịch Quá trình kết tinh xảy ra khi hạ nhiệt một dung dịch chứa hai cấu tử.
Tùy theo thành phần trong dung dịch mà cấu tử này hay cấu tử kia sẽ kết tính trước hoặc cả hai cấu tử đều đồng thời kết tinh. Kết tinh là quá trình tự nhiên hoặc nhân tạo mà sản phẩm hình thành dưới dạng một thể rắn hay còn gọi là tinh thể. Trong một số trường hợp sản phẩm kết tinh không phải là cấu tử nguyên chất mà là một hợp chất hóa học (muối ngậm nước, muối kép…) hoặc kết tinh thành các dung dịch rắn. Đây là được coi là bước tinh chế cuối cùng trong sản xuất các sản phẩm dạng rắn với độ tinh khiết cao mà chi phí sản xuất thấp.
Kết tinh được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp hóa chất, thực phẩm và dược phẩm [2]. Quá trình kết tinh bao gồm nhiều hiện tượng phức tạp xảy ra đồng thời như sự tạo mầm, phát triển tinh thể, sự phá vỡ và kết tự các tinh thể. Hình thái, kích thước và độ tinh khiết của tinh thể phụ thuộc vào phương pháp kết tinh được áp dụng [3]. Ngoài ra các đặc tính của tinh thể còn phụ thuộc vào việc kiểm soát các điều kiện trong suốt quá trình kết tinh như: nhiệt độ, tốc độ khuấy, tốc độ bốc hơi, số lượng mầm và tỷ lệ dung môi [4].
6 Trong nhiều trường hợp hóa chất công nghiệp chứa một lượng nhỏ tạp chất có thể làm chậm sự phát triển của tinh thể theo những hướng nhất định từ đó ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển và sửa đổi hình thái của tính thể [5]. Các tạp chất ảnh hưởng đến độ hòa tan của pha chính ở trạng thái ổn định, trạng thái bão hòa và hình thái của tinh thể từ đó làm giảm năng suất của quá trình kết tinh [3]. Đặc biệt trong ngành dược phẩm, một lượng nhỏ tạp chất có thể ảnh hưởng đến chất lượng của thuốc và gây ra các tác dụng phụ có hại. Do đó cần phải hiểu được sự ảnh hưởng của tạp chất đối với quá trình kết tinh và kiểm soát quá trình kết tinh để giảm tối đa lượng tạp chất là một kỹ thuật vô cùng quan trọng.
Kỹ thuật này phụ thuộc vào các yếu tố như thành phần hóa học của dung dịch, độ hòa tan của pha chính và các tạp chất, sự tương tác của pha chính và tạp chất và các điều kiện kết tinh [6]. Đối với dung dịch có hai cấu tử. Tùy theo thành phần của dung dịch mà cấu tử này hoặc cấu tử kia sẽ kết tính trước và có tồn tại một thành phần mà cả hai cấu tử đồng thời kết tinh [1]. Trong một số trường hợp phức tạo hơn sản phẩm kết tinh không phải là một hợp chất hoá học có thể mà muối kép hay muối ngậm nước hoặc các dung dịch rắn [1].2 Sự phát triển của tinh thể 1.1 Tinh thể Trong không gian 3 chiều, các hạt nguyên tử, phân tử và ion liên kết chặt chẽ với nhau bằng những lực tương tác và sắp xếp theo một trật tự tuần hoàn nhất định tạo thành các cấu trúc tinh thể.
Cấu trúc tinh thể bao gồm 3 hệ tinh thể và 14 loại ô cơ sở được phân biệt dựa trên 3 cạnh và 3 góc. Tinh thể là pha rắn tách ra khỏi dung môi nhờ quá trình kết tinh. Quá trình kết tinh trải qua 2 giai đoạn là tạo mầm và phát triển tinh thể [7]. Điều kiện tiên quyết để quá trình kết tinh xảy ra là dung dịch phải ở trạng thái quá bão hòa do mọi hệ luôn có xu hướng đạt đến trạng thái cân bằng.
Khi dung dịch đạt ngưỡng bão hoà, chúng sẽ có xu hướng chuyển dung dịch về trạng thái cân bằng để giảm bớt sự quá bão hoà đồng thời tạo ra các tính thể rắn. Quá trình này rất khó để kiểm soát do ảnh hưởng bởi các điều kiện phát triển tinh thể như dung môi hoặc sự có mặt của các tạp chất [8]. Để đảm bảo chất lượng sản phẩm của quá trình kết tinh cần phải quan tâm đến 2 thông số là độ tan và vùng giả bền.2 Sự kết tinh của dung dịch hai cấu tử 1.1 Hệ không tạo thành dung dịch rắn, không tạo hợp chất hóa học Một số hệ sẽ cho ra các pha rắn nguyên chất khi kết tinh và các chất này không tạo hợp chất hóa học với nhau như các hệ muối NaCl – H2O, KNO3 – H2O… Ở áp suất không đổi, giản đồ pha (T – x) của hệ hai cấu tử A – B có dạng như hình 1. T LA-B b a L - RB RA - L r r' e RA - RB A E B Hình 1.2 Giản đồ T – x của hệ hai cấu tử cân bằng lỏng – rắn Trên giản đồ T – x đường aeb gọi là đường lỏng, đường arr’b gọi là đường rắn.
Đường cong ae được gọi là đường hòa tan hoàn toàn hay đường kết tinh của chất A mô tả cân bằng giữa rắn và lỏng của chất A và cho biết nhiệt độ bắt đầu kết tinh của chất rắn A đối với các hệ có thành phần nằm trong khoảng AE [9]. Theo dõi sự thay đổi nhiệt độ của hệ Q theo thời gian ta sẽ xây dựng được đường nguội lạnh (T – t). T T Q b q a l1 r1 T1 r Q2 l2 r2 T2 RA H RB Te t e RC s u A E B Thời gian t Hình 1.3 Giản đồ T – x của hệ hai cấu tử cân bằng lỏng rắn và đường nguội lạnh (T – t) Tại điểm r, cấu tử B bắt đầu có sự kết tinh tạo thành hệ 2 pha lỏng – chất rắn B. Tại điểm s, cấu tử A bắt đầu có sự kết tinh tạo thành hệ 3 pha lỏng – chất rắn A – chất rắn B.
Tại điểm t, cấu tử A và B kết tinh hoàn toàn tạo thành hệ 2 pha chất rắn A – chất rắn B [9]. 8 Các đường trên giản đồ (T – t) là tập hợp những điểm mà hệ có số pha thay đổi, còn đường lỏng là tập hợp những điểm bắt đầu có xảy ra kết tinh. Dựa vào các diểm gãy khúc trên các đường nguội lạnh (T – t) sẽ suy ra đường cong (T – x) như hình 1. Đây được gọi là phép phân tích nhiệt [10].