Đặt vấn đề Rotor là một trong những thành phần truyền động quan trọng trong các loại máy móc cơ khí. Để đảm bảo máy hoạt động trơn tru và hiệu quả, rotor yêu cầu độ chính xác cao và độ rung động thấp trong quá trình hoạt động. Nhưng sau một khoảng thời gian vận hành hoặc qua các đợt bảo trì, rotor có khả năng sẽ xuất hiện các khối lượng dư tạo ra sự không đồng tâm của trục quán tính của rotor và trục quay của rotor, gây ra lực ly tâm trong lúc quay làm rotor bị mất cân bằng. Sự mất cân bằng của rotor trong lúc hoạt động, gây ra sự rung động trên rotor, rung động này có thể truyền tới ổ bi và các bộ phận khác, điều này tạo tiếng ồn, làm giảm hiệu suất và tệ hơn là làm hư hỏng rotor và các bộ phận khác.
Vì thế, yêu cầu rotor cần phải trải qua một quá trình cân bằng để giảm rung động, đưa rotor về trạng thái ổn định nhằm khắc phục các sự cố kể trên. Hiện nay, có hai loại cân bằng là cân bằng tĩnh và cân bằng động. Cân bằng động được ưu tiên hơn cả vì rotor được cân bằng và đánh giá trong lúc quay giúp cho việc cân bằng mang lại hiểu quả tốt hơn. Cân bằng động có hai xu hướng: cân bằng động trên máy chuyên dụng và cân bằng tại chỗ (hay cân bằng động tại hiện trường).
Cân bằng động trên máy chuyên dụng yêu cầu phải tháo rotor ra khỏi máy, đem đến các cơ sở cân bằng máy và thường được cân bằng ở tốc độ thấp, thấp hơn tốc độ hoạt động thực tế của rotor. Sau khi cân bằng, rotor sẽ được lắp lại trên máy, điều này dẫn đến rủi ro do sai số trong quá trình lắp đặt và chưa tính tới các ảnh hưởng khác tại hiện trường như ổ bi, tốc độ làm việc … của rotor. Trong khi đó, cân bằng tại chỗ yêu cầu sự tháo lắp là ít nhất đảm bảo cho việc tiếp cận rotor để đo đạc và cân bằng mà không tháo rời rotor ra khỏi máy. Điều này giúp khắc phục các nhược điểm của cân bằng động trên máy chuyên dụng: không cần tháo lắp rotor nhằm giảm thời gian ngừng sản xuất, tính toán đến các yếu tố tại hiện trường, các ảnh hưởng từ ổ bi, tổng thể máy được cân bằng và có thể cân bằng trong chế độ hoạt động thường ngày giúp việc cân bằng mang lại kết quả tốt hơn, đáng tin cậy hơn.
1 HVTH: Cung Nguyễn Bảo Khoa GVHD: PGS. Phạm Huy Hoàng Quy trình cân bằng tại chỗ cho rotor được xác định dựa trên đặc tính động học của rotor. Trong đó, rotor được chia làm hai loại chính: rotor cứng và rotor mềm (hay rotor đàn hồi). Khi cân bằng rotor cứng, hình dạng của trục quay được xem như không đổi theo tốc độ của trục.
Đối với rotor mềm, hình dạng trục chính thay đổi theo tốc độ quay, vì vậy sự phân bố mất cân bằng cũng thay đổi theo [1]. Sự khác biệt này là do các rotor mềm hoạt động ở tốc độ cao như máy nén, máy phát điện có xu hướng có đường kính nhỏ hơn, do đó mà càng đàn hồi hơn (dễ biến dạng khi chịu tác dụng bởi lực mất cân bằng), ngược lại các rotor cứng hoạt động trong các chế độ tốc độ thấp. Do sự khác biệt này, các quy trình cân bằng trên rotor cứng không thể áp dụng để cân bằng cho rotor mềm, do đó cần phải có quy trình cân bằng riêng cho rotor mềm. Hiện nay, các quy trình cân bằng tại chỗ cho rotor mềm đã được nghiên cứu và áp dụng trong thực tế, phần nào đã giải quyết thành công sự mất cân bằng.
Nhưng vẫn còn các nhược điểm như sai số, số lần cân bằng còn lớn. Vì vậy cân bằng tại chỗ cho rotor mềm cần được nghiên cứu và phát triển để khắc phục các hạn chế trên. Trong luận văn này, phương pháp cân bằng rotor mềm không sử dụng khối lượng thử sẽ được trình bày và xác minh bằng phương pháp mô phỏng. Phương pháp này có tính đến việc cập nhật mô hình toán bằng dữ liệu thu thập được qua quá trình phân tích thực nghiệm phương thức.
Nhờ phương pháp này, mô hình mô phỏng sẽ được xác thực và tính chính xác cao hơn.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài và trong nước 1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài Trong khi sự cần thiết của cân bằng rotor được trình bày bởi Jeffcott trong bài báo được xuất bản năm 1919, những nghiên cứu có đóng góp đáng kể chỉ xuất hiện sau năm 1930. Trước những năm 1950, những tài liệu về cân bằng chỉ quan tâm về cân bằng roto cứng và một số ít các trường hợp là những rotor mềm đơn giản. Vào lúc đó, không có một tài liệu nào trình bày một quy trình cân bằng nào sử dụng nhiều hơn hai mặt phẳng. Các rotor mềm đầu tiên là rotor trong tua bin hơi nước.
Ban đầu, những rotor này được cân bằng bằng quy trình đơn giản cho rotor cứng. Tuy nhiên, vì những rotor này trở nên linh hoạt hơn, và thường vận hành ở tốc độ trên tốc độ 2 HVTH: Cung Nguyễn Bảo Khoa GVHD: PGS. Phạm Huy Hoàng cộng hưởng, những quy trình cân bằng lúc bấy giờ không còn phù hợp nữa. Điều này dẫn đến sự phát triển về một số phương pháp cân bằng được thiết kế riêng biệt cho những rotor mềm này.
Quy trình cân bằng rotor mềm có thể chia làm hai nhóm: Cân bằng phương thức, và Cân bằng dùng hệ số ảnh hưởng. Cân bằng phương thức được phát triển đầu tiên, ở đầu những năm 1950. Nhưng ban đầu, vì các thiết bị còn bị giới hạn nên cân bằng phương thức phụ thuộc các tính toán đơn giản và trình độ hiểu biết của người vận hành, thay vì số lượng lớn các dữ liệu về rung động. Cân bằng hệ số ảnh hưởng được phát triển vài năm sau đó, cùng với sự cải thiện về các thiết bị và sự xuất hiện của máy tính kỹ thuật số.
Do đó, việc sử dụng các dữ liệu lớn được thay thế cho trình độ hiểu biết của người vận hành trong quy trình cân bằng máy. Sau cùng, phương pháp cân bằng hợp nhất được phát triển như là một phương pháp thực nghiệm, dựa trên nền cân bằng hệ số ảnh hưởng. Nó được tạo ra để tận dụng các đặc tính phương thức của đáp ứng rotor và tránh các nhược điểm của cân bằng hệ số ảnh hưởng.1 Cân bằng phương thức [2] Phương pháp cân bằng phương thức chia các chế độ rung động thành các chế độ riêng biệt và cân bằng chúng độc lập với nhau. Phương pháp này dựa trên quy luật biến dạng đàn hồi của rotor mất cân bằng.
Để phân tích các chế độ rung động và cân bằng chúng thì những phương pháp phân tích phương thức cần được sử dụng. Urbikain và cộng sự đã trình bày phương trình rung động và dao động trong quá trình quay. Họ đã sử dụng phương pháp Chebyshev và thuật toán ode23 để giải các phương trình trên. Thực nghiệm cho thấy những phương pháp này có hiệu quả trong việc đạt được các chế độ rung động của máy và có ích trong việc thiết kế công cụ.
Grobel đã đưa ra phương pháp cân bằng cho rotor tua bin liên quan đến phương pháp cân bằng phương thức sớm nhất. Kellenberger và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu chuyên về phương pháp cân bằng này, trong đó phương pháp cân bằng N mặt phẳng và (N+2) mặt phẳng được đề cập, với N là số tốc độ tới hạn trong dải tốc độ vận hành của rotor. Một thí nghiệm cân bằng tua bin 650 MW được thực hiện bởi hai phương pháp cân bằng N mặt phẳng và (N+2) mặt phẳng. Kết quả cho thấy rằng 3 HVTH: Cung Nguyễn Bảo Khoa GVHD: PGS.
Phạm Huy Hoàng phương pháp (N+2) mặt phẳng cho kết quả chính xác hơn nhưng tốn nhiều công sức và thời gian hơn phương pháp N mặt phẳng. Palazzolo và cộng sự đã phát triển phương pháp xác định sự phân bố của rotor mềm mà không sử dụng trọng lượng thử và đã xác thực bằng thí nghiệm. Bằng việc biết được khối lượng phương thức và hình dáng của từng chế độ của rotor, sự phân bố cân bằng phương thức có thể được tính toán. Mối quan hệ này cung cấp một quy trình nhanh chóng trong việc ước tính khối lượng cân chỉnh cho việc cân bằng chế độ đầu tiên về cường độ và vị trị góc.
Tuy nhiên, vẫn còn một vài hạn chế trong quy trình này. Rotor được vận hành vượt qua vùng tốc độ tới hạn và rotor có giảm chấn. Meacham đã trình bày quy trình cân bằng tận dụng phương pháp phương thức phức tạp cho rotor mềm tuyến tính có hình dáng cung gây ra bởi trọng lượng dư. Phương pháp này không cần chạy thử.
Tuy nhiên, một mô hình toán đáng tin cậy để có được các thông số phương thức của rotor, được sử dụng để liên hệ những hiệu chỉnh cân bằng với đáp ứng được đo. Một vài chiến lược dựa trên sự mở rộng các nghiên cứu trước đây được đưa ra cho cân bằng ở một tốc độ. Và hai thực nghiệm ứng dụng phương pháp trên đã được thực hiện, hệ thống tua bin khí và hệ thống tua bin hơi. Ở thế kỉ 21, phương pháp cân bằng phương thức đã được cải thiện về mặt lý thuyết và thực nghiệm.
Bucher đã tóm tắt sự khác nhau giữa mô hình toán được dùng trong phân tích động lực học của các kết cấu quay và không quay, và xác thực chúng bằng thực nghiệm. Các loại khác nhau của kết cầu quay được sử dụng cho những mô hình khác nhau. Bài báo đã phân loại các mô hình khác nhau và chỉ ra các điều kiện tiên quyết của chúng. Sau đó, các thí nghiệm phương thức có liên quan đã được thực hiện để xác nhận lý thuyết được đề xuất.2 Cân bằng hệ số ảnh hưởng [2] Khác với cân bằng phương thức, cân bằng hệ số ảnh hưởng không biết trước sự phân bố không cân bằng của rotor mà dựa vào việc đo rung động ban đầu của của các mặt phẳng cân bằng khác nhau và rung động sau khi lắp các tải trọng thử, từ đó xác định ra ma trận hệ số cân bằng và các tải trọng hiệu chỉnh.
Ban đầu phương pháp này được sử dụng cho việc cân bằng rotor cứng ở tốc độ cân bằng. Thearle đã đề xuất 4 HVTH: Cung Nguyễn Bảo Khoa GVHD: PGS. Phạm Huy Hoàng phương pháp này dựa trên một thí nghiệm. Bởi vì phương pháp này chỉ có thể được áp dụng cho rotor cứng, Baker đã cải tiến dựa trên nó, nhưng kết quả thực nghiệm đã không thỏa mãn.