Đặt vấn đề Ớt cay (Capsicum annuum L.) thuộc họ Cà gồm: cà chua, cà xanh, cà tím, cà pháo (Solanaceae), chứa nhiều Vitamin A, C và E (Pickersgill, 1997). Ớt là một loại rau gia vị được sử dụng ở dạng tươi, khô hoặc chế biến thành bột ớt, dầu, nước xốt, muối chua, cây cảnh. Các cơ quan an ninh còn sử dụng ớt làm hơi cay (Agyare, 2013). Diện tích ớt ngày càng gia tăng, nhưng năng suất liên tục giảm trong những năm gần đây do người dân thiếu áp dụng khoa học kỹ thuật, thâm canh trên một nền đất trong thời gian dài dẫn đến dịch bệnh nghiêm trọng.
Trong đó các loài nấm gây bệnh, nhóm tác nhân chính gây bệnh trên hầu hết các loại cây trồng, đặc biệt là nhóm nấm đất (Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii, Fusarium sp. Một trong những loài nấm đất điển hình hại vùng rễ cây trồng cạn là nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng (HRGMT). Nguồn bệnh của nấm tồn tại chủ yếu trong đất, trong tàn dư thực vật, cây ký chủ và trong các vật liệu giống nhiễm bệnh dưới dạng sợi nấm, hạch nấm có thể lan truyền qua hạt, đất, động vật và con người và lưu tồn lâu trong đất nên có thể gây hại qua nhiều vụ (Phạm Văn Kim, 2000), làm giảm năng suất đáng kể và rất khó phòng trị bằng thuốc hóa học (Burgess et al., 2008) là nguyên nhân tạo ra các chủng nấm bệnh kháng thuốc. Một trong những hướng nghiên cứu đã được đẩy mạnh là phòng trừ dịch hại cây trồng bằng biện pháp sinh học, theo xu hướng này là sử dụng các tác nhân sinh học để hạn chế các bệnh trong đất.
Sử dụng các vi sinh vật đối kháng để kiểm soát các loại nấm bệnh thực vật là một biện pháp an toàn và hiệu quả. Cơ chế đối kháng với nấm gây bệnh là chủng vi sinh vật có thể tiết ra chất kháng sinh, cạnh tranh về dinh dưỡng hoặc tấn công trực tiếp lên 1 tản nấm gây bệnh, hay tiết ra những chất kích thích sinh truởng giúp cho cây trồng tăng khả năng kháng bệnh Các loại vi sinh vật đối kháng như nấm đối kháng hay vi khuẩn đối kháng có phạm vi phân bố rộng khắp ở trong đất và hệ sinh thái vùng rễ cây trồng. Cơ chế đối kháng cây của các loại vi sinh vật này chủ yếu bao gồm cạnh tranh dinh dưỡng, ký sinh nấm gây bệnh, tạo kháng sinh, tăng sinh tưởng và kích thích phản ứng kháng cây cây trồng (Harman, 2006). Đây cũng là hướng thu hút được nhiều sự quan tâm cây các nhà nghiên cứu trong những năm gần đây.
Từ thực tế trên, chúng tôi đã đề xuất đề tài: “Nghiên cứu phòng chống bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại ớt (sclerotium rolfsii) tại Thái Bình” 2. Mục tiêu và yêu cầu 2.1 Mục tiêu + Điều tra thực tế bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên cây ớt. Xác định và nghiên cứu nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên cây ớt. Dựa vào đặc điểm sinh học thử nghiệm khả năng ức chế cây một số vi sinh vật đối kháng.2 Yêu cầu - Điều tra tình hình, diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng gây hại trên cây ớt tại Thái Bình.
- Phân ly nuôi cấy, nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học cây nấm S. rolfsii trên cây ớt. - Khảo sát hiệu lực ức chế của vi khuẩn đối kháng (B. Amyloliquefaciens, YB4) và nấm đối kháng (T.1) - Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên cây ớt bằng vi vi khuẩn đối kháng và nấm đối kháng trong nhà lưới 2 3.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm mục đích xác định được tác nhân gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên cây ớt và đặc điểm hình thái, sinh học làm cơ sở cho việc phòng chống nấm gây hại S. đạt hiệu quả cao. - Thử nghiệm và xây dựng các biện pháp phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên cây ớt.
Ý nghĩa thực tiễn Xây dựng quy trình quản lý dịch hại tổng hợp trên cây ớt làm giảm tối đa tỷ lệ nhiễm bệnh vùng rễ trên cây ớt gây ra, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TỔNG QUAN VỀ CÂY ỚT 2. Nguồn gốc cây ớt Theo các nhà nghiên cứu phân loại thực vật thì cây ớt có nguồn gốc từ Nam Mỹ (Mehico), bắt nguồn từ một số loài hoang dại và nguồn gốc thứ hai là ở Guatemala.
Theo Vavilop, nguồn gốc thứ hai không phải ở Guatemala mà ở Evraz. Hiện nay, cây ớt được trồng phổ biến ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới. Năm 2009, diện tích ớt trên toàn thế giới là 1,81 triệu ha cho mục đích lấy quả tươi, với sản lượng 28,07 triệu tân. Diện tích sản xuất ớt khô 1,91 triệu ha, với sản lượng 31,38 triệu tấn.
Các nước nhập khẩu và xuất khẩu ớt quan trọng nhất bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico, Pakistan, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ (Nguyễn Thanh Phong, 2011). Vị trí phân loại Cây ớt có tên khoa học là Capsicum frutescens L., cây ớt thuộc họ cà Solanaceae, chi ớt (Capsium) có khoảng 30 loài nhưng chỉ có 5 loài được trồng là Capsicum pendulum, Capsicum annum, Capsicum flrutescens, Capsicum chinensis. Trong đó, hai loài Capsicum pendulum, Capsicum pubescens được trồng hạn chế ở Trung và Nam Mỹ, loài Capsicum chinensis được trồng ở khu vực Amazon và châu Phi. Hai loài Capsicum annum và Capsicum flrutescens được trồng khắp nơi trên thế giới.
Đặc điểm thực vật học cây cây ớt Cây ớt là cây gia vị, thân thảo, thân dưới hóa gỗ, có thể sống vài năm, có nhiều cành, nhẵn, lá mọc so le, hình thuôn dài, đầu nhọn, hoa mọc đơn độc ở kẽ lá. Các bộ phận cây cây ớt như quả, lá và rễ được dùng làm thuốc chữa bệnh. 4 Ớt có rễ cọc phát triển mạnh với nhiều rễ phụ, việc cấy chuyển thường làm cho rễ cọc bị đứt và cho một hệ rễ chùm phát triển. Ớt là cây bụi, hai lá mầm, thân thường mọc thẳng, đôi khi có thể gặp các dạng như thân bò, nhiều cành, chiều cao trung bình từ 0,5 – 1,5 m, có thể là cây hằng năm hoặc lâu năm, nhưng thường được gieo trồng như cây hằng năm.
Lá đơn, mọc xoắn trên thân chính. Lá có nhiều dạng khác nhau, nhưng thường mọc nhất là loại lá mác, mép lá ít răng cưa. Lông trên lá tùy thuộc vào từng loại ớt khác nhau, một số có mùi thơm. Lá thường mỏng, có kích thước trung bình từ 1,5- 12 cm x 0,5 – 7,5 cm.
Các hoa hoàn thiện thường được sinh đơn độc trên từng nách lá. Hoa có thể mọc thẳng đứng hoặc buông thỏng. Trên cuống hoa thường không có li tầng. Hoa thường có màu trắng, một số giống có màu sữa, xanh lam hoặc màu tím.
Hoa có 5 – 7 cánh hoa, cuống dài khoảng 1,5 cm, đài ngắn có dạng chuông, nhụy có màu trắng hoặc tím, đầu nhụy có dạng hình đầu, hoa có 5 – 7 nhị đực với ống phấn màu xanh trời hoặc tía. Thuộc loại quả mọng có nhiều hạt và chia làm nhiều ngăn. Các giống khác nhau có kích thước quả, hình dạng, màu sắc, độ cay và độ mềm cây thịt quả rất khác nhau. Quả chưa chín có màu xanh hoặc tím, quả chín có màu đỏ, da cam, vàng, màu kem hoặc hơi tím.
Hạt ớt nhỏ dẹp, có dạng thận, màu vàng rơm, chỉ có hạt cây Capsicum pubescens có màu đen. Hạt có chiều dài khoảng 3 – 5 mm và trong 1 gram ớt cay có khoảng 220 hạt. Giá trị dược liệu cây cây ớt Ớt được trồng khắp nơi để làm gia vị và làm thuốc. Có hai loại ớt là ớt ngọt và ớt cay.
Ở Việt Nam, phổ biến nhất là loại ớt cay. Quả ớt có vị cay, tính nóng, có tác dụng tiêu đàm, ổn trung, giải biểu, kiện vị, tiêu thực gây sung huyết, kích thích chung, giảm đau và sát trùng. Rễ ớt có tác dụng làm 5 hoạt huyết, tán thủng. Lá ớt có vị đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu.
Ớt ngọt được dùng làm rau ăn, ớt cay dùng làm gia vị và làm thuốc. Quả ớt trị tỳ vị hơi lạnh, tiêu chảy, hắc loạn, nôn mửa, dạ dày ruột đầy trướng, mất trương lực, tích trệ, ăn không tiêu, đau nhức nửa đầu, đau lưng, đau khớp, thống phong, đau dây thần kinh, viêm thanh quản và viêm họng. Giá trị dinh dưỡng cây ớt Thành phần chủ yếu cây vỏ quả là chất cay, không màu, kết tinh, có tên gọi là Capsaicin (C17H27NO3), hàm lượng cây nó phụ thuộc vào từng loại giống. Quả còn chứa một loại dầu có màu đỏ, không cay, chiết xuất dịch alkaloid khoảng 20 – 25%.
Quả ớt xanh, chứa nhiều rutin, là chất được dùng rộng rãi trong y học. Ớt là một loại rau gia vị được sử dụng ở dạng tươi, khô hoặc chế biến thành bột ớt, dầu, nước xốt (Kếtchup), muối chua, cây cảnh,. Các cơ quan an ninh còn sử dụng ớt làm hơi cay (Agyare, 2013). Ngoài ra, quả ớt còn chứa nhiều loại vitamin như: A, B1, B2, B6, C, citric acid, nialic acid, lycopene, lutein và beta – carotene.
Beta – carotene giúp chống lại sự tấn công cây các gốc tự do, ngăn ngừa quá trình lão hóa (Pickersgill, 1997). Vitamin B6 trong ớt là chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển não bộ và giúp cơ thể sản sinh hormone serotonin và neuroendocrine (ảnh hưởng đến tâm trạng) và melatonin (giúp điều chỉnh nhịp sinh học cây cơ thể). Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển cây cây ớt Nhiệt độ Theo Mai Thị Phương Anh (2001), nhiệt độ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và tỷ lệ đậu trái. Nhiệt độ ngày/đêm bằng 25/28 là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển cây cây ớt.
Nhiệt độ ban đêm thấp (8 – 15oC) làm giảm tỷ lệ đậu quả, kích thước quả và quả không hạt. Nhìn chung, cây ớt thích hợp ở nhiệt độ 20 – 30oC 6 Ánh sáng Theo Mai Thị Phương Anh (2001), cây ớt ít mẫn cảm với ánh sáng và là cây ưa sang ngắn ngày. Nếu trong 1 ngày, thời gian chiếu sáng 9 – 10 giờ sẽ kích thích tăng trưởng, tăng sản phẩm 21 – 24% và tăng chất lượng cây quả. Trời âm u thì sẽ giảm tỷ lệ đậu quả, giảm năng suất và chất lượng sản phẩm.
Độ ẩm Cũng theo Mai Thị Phương Anh (2001), cây ớt thích hợp ở điều kiện đất ẩm, điều kiện không khí khô hạn sẽ kích thích quá trình chín cây quả.