Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phát triển du lịch nông nghiệp (DLNN) là một định hướng chiến lược nhằm thúc đẩy kinh tế nông thôn bền vững, tạo ra chuỗi giá trị gia tăng cho nông sản và nâng cao thu nhập cho cư dân trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp (SXNN). Tại Việt Nam, DLNN được xác định là chủ trương mới của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và là nhiệm vụ trọng tâm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Theo thống kê diện tích đất đai năm 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đất nông nghiệp chiếm khoảng 80% tổng diện tích đất tự nhiên cả nước, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các mô hình du lịch gắn với không gian nông nghiệp, nông thôn.

Tuy nhiên, báo cáo năm 2020 của Tổng cục Du lịch Việt Nam chỉ rõ hoạt động DLNN tại Việt Nam hiện chủ yếu mang tính tự phát, manh mún, nhỏ lẻ, sản phẩm còn trùng lặp và thiếu thương hiệu đặc trưng. Kỹ năng phục vụ du khách của nông dân còn nhiều hạn chế, cơ sở hạ tầng (CSHT) và cơ sở vật chất (CSVC) kỹ thuật phục vụ du lịch tại khu vực nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ.

Tỉnh Thái Nguyên sở hữu diện tích trồng chè lớn nhất cả nước và được định danh với danh hiệu "Đệ nhất danh trà". Nhằm hiện thực hóa Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, địa phương đã tập trung quy hoạch ba dòng sản phẩm du lịch chủ đạo: du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng, du lịch về nguồn và du lịch trải nghiệm vùng chè - văn hóa trà Tân Cương. Dù đã hình thành các điểm đến nổi tiếng tại bốn vùng chè trọng điểm (Tân Cương, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương), mô hình DLNN tại đây vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: tính liên kết chuỗi giữa nông hộ với doanh nghiệp lữ hành còn yếu, chuỗi tiêu thụ sản phẩm chè qua du lịch chưa phát huy hiệu quả, và đặc biệt là thiếu một khung công cụ đo lường mang tính khoa học để định hướng phát triển bền vững. Từ thực tiễn đó, đề tài "Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí về phát triển du lịch nông nghiệp bền vững áp dụng cho vùng chè tại tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận:

  • Xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí về DLNN bền vững có tính khả thi cho các vùng chè tại tỉnh Thái Nguyên.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Đánh giá phát triển DLNN bền vững cho các điểm đến của vùng chè tại tỉnh Thái Nguyên bằng các tiêu chí nào?
  2. Phương pháp nghiên cứu và các kỹ thuật phù hợp nhất để xử lý dữ liệu thu thập được trong phương pháp này là gì?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mức độ bền vững của mô hình DLNN vùng chè tỉnh Thái Nguyên; Bộ tiêu chí đánh giá DLNN bền vững cho các điểm đến tại vùng chè tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Các vùng trồng chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (tập trung khảo sát sâu tại vùng chè Tân Cương và các hợp tác xã chè điển hình).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 01/2023 đến tháng 05/2023; thời gian thu thập dữ liệu sơ cấp tại thực địa diễn ra từ đầu tháng 01/2023 đến giữa tháng 03/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận từ các trường phái nghiên cứu quốc tế và văn kiện chuyên ngành. Theo định nghĩa tổng hợp từ Barbieri & Mshenga (2008), Butler & Rogerson (2016), Thu Hòa (2019), DLNN (Agritourism) là loại hình du lịch tạo ra sản phẩm phục vụ du khách dựa trên hoạt động SXNN nhằm mục đích giải trí hoặc giáo dục, cấu thành từ bốn yếu tố: kết hợp giữa du lịch và nông nghiệp; thu hút khách đến tham quan hoạt động nông nghiệp; gia tăng thu nhập cho nông dân; và cung cấp trải nghiệm thực tế với thiên nhiên. Tác giả phân loại DLNN thành ba hình thức chính: mô hình du lịch dựa trên làng nghề truyền thống và vùng SXNN đặc trưng, mô hình trang trại kết hợp du lịch sinh thái, và mô hình du lịch sinh thái miệt vườn.

Về khung tính bền vững, tác giả tổng hợp từ báo cáo Tương lai của chúng ta của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED, 1987), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Hội nghị thượng đỉnh Rio-92 và Johannesburg (2002). Tác giả đề xuất mở rộng khung đánh giá truyền thống (gồm 3 trụ cột: Kinh tế, Xã hội, Môi trường) thành hệ thống 5 trụ cột tiếp cận toàn diện đối với vùng chè: Kinh tế, Xã hội, Môi trường, Văn hóa và Quản trị.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu được triển khai:

  • Phương pháp định tính: Phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp từ văn kiện Đảng, Tổng cục Du lịch, Cổng thông tin điện tử và Trung tâm Tư vấn và Xúc tiến đầu tư tỉnh Thái Nguyên; tham vấn trực tiếp chuyên gia và nghệ nhân tại thực địa ngày 06/01/2023.
  • Phương pháp định lượng (Kỹ thuật Delphi chuyên gia): Được phát triển bởi RAND Corporation (Dalkey & Helmer, 1963), vận hành dựa trên 4 đặc trưng: tính ẩn danh, sự lặp lại qua nhiều vòng, phản hồi có kiểm soát và thống kê phản hồi nhóm. Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi cấu trúc theo thang đo Likert 7 điểm (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 7: Hoàn toàn đồng ý).
  • Công cụ thống kê xử lý dữ liệu:
    • Thống kê mô tả: Tính giá trị trung bình ($\bar{Y}$), tỷ lệ phần trăm đồng ý ($t \ge 80%$) và không đồng ý ($i$). Điều kiện để một tiêu chí được giữ lại: $\bar{Y} > 5,0$ và $t \ge 80%$.
    • Hệ số tin cậy Cronbach's Alpha: Đánh giá tính nhất quán nội tại của thang đo: $$\alpha = \frac{K}{K - 1} \left(1 - \frac{\sum s_i^2}{s_t^2}\right)$$ Hệ số $\alpha \ge 0,7$ được chấp nhận; $\alpha \ge 0,8$ đạt độ tin cậy tốt (George & Mallery, 2003; Gliem et al., 2003).
    • Hệ số phù hợp Kendall's W: Đo lường mức độ đồng thuận thứ bậc giữa các chuyên gia: $$W = \frac{12 S}{m^2 (n^3 - n)}$$ Với $W \ge 0,7$ biểu thị sự đồng thuận rất mạnh; $W \approx 0,5$ đồng thuận trung bình; $W < 0,3$ đồng thuận yếu (Schmidt, 1997; Garcia-Crespo et al., 2010).

Cơ sở dữ liệu của nghiên cứu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo thống kê ngành nông nghiệp, số liệu niên giám tỉnh Thái Nguyên, tài liệu dự án của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Hệ thống chỉ số Du lịch Châu Âu (ETIS).
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua các vòng khảo sát Delphi. Hội đồng ban đầu gồm 23 chuyên gia được lựa chọn theo năng lực chuyên môn và thâm niên công tác.
Đặc điểm chuyên gia Phân loại Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Kinh nghiệm về DLNN Cả lý thuyết và thực tế 15 65,78
Chỉ lý thuyết hoặc chỉ thực tế 8 34,22
Không có kinh nghiệm/kiến thức 0 0,00
Loại hình tổ chức Đại học / Viện nghiên cứu (chủ yếu là ĐH Nông Lâm Thái Nguyên) 14 60,87
Doanh nghiệp khu vực tư nhân / Khác 9 39,13
Hồ sơ chức danh Quản lý cấp trung 14 60,87
Quản lý cấp cao và Nhà nghiên cứu 9 39,13

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về xây dựng bộ tiêu chí về phát triển du lịch nông nghiệp bền vững và cơ sở lý luận về du lịch nông nghiệp, tính bền vững

Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến bộ chỉ số phát triển du lịch bền vững. Trên thế giới, các tác giả nổi bật gồm: Schianetz & Kavanagh (2008) với phương pháp Hệ thống chỉ báo hệ thống (SIS) áp dụng tại Queensland (Australia); Park & Yoon (2011) kết hợp kỹ thuật Delphi và phân tích thứ bậc (AHP) xác định 33 chỉ số du lịch nông thôn bền vững qua 4 khía cạnh; Somuncu và cộng sự (2015) nghiên cứu tại Thung lũng Ihlara nhấn mạnh phúc lợi và sự hài lòng cộng đồng; Leon và cộng sự (2017) kết hợp Delphi và ra quyết định đa tiêu chí tại Cuba để xây dựng bộ chỉ số trên ba phương diện kinh tế, xã hội và di sản.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu tiêu biểu gồm: La Nữ Anh Vân (2012) tại Bình Thuận; Châu Quốc Tuấn và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014) khảo sát 641 du khách, 100 người dân và 25 cán bộ quản lý tại Vịnh Bái Tử Long; Võ Thị Ngọc Giàu (2015) nghiên cứu du lịch làng nghề Bến Tre; Hùng Nguyễn (2017) đánh giá du lịch cộng đồng Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình). Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các đề tài trong nước chủ yếu tiếp cận theo hướng mô tả thực trạng định tính, thiếu áp dụng các mô hình định lượng sàng lọc chuyên sâu; phần lớn nghiên cứu xem DLNN thuộc nhóm du lịch nói chung hoặc phát triển nông thôn đơn thuần, chưa có công trình nào sử dụng kỹ thuật Delphi để xây dựng bộ tiêu chí bền vững chuẩn hóa áp dụng riêng cho vùng trồng chè đặc thù như tỉnh Thái Nguyên.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và cơ sở dữ liệu

Chương 2 trình bày chi tiết quy trình thiết kế công cụ nghiên cứu qua các vòng Delphi. Từ việc tổng hợp các khung hướng dẫn quốc tế (UNWTO, WTO, ETIS), tác giả thiết kế bảng câu hỏi vòng thử nghiệm ban đầu gồm 167 nhóm tiêu chí, phân bổ theo 5 trụ cột và 35 khía cạnh thành phần:

  • Trụ cột Kinh tế: Gồm 5 khía cạnh (Lợi ích kinh tế của cộng đồng và điểm đến, Tính thời vụ của DLNN, Việc làm, Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp DLNN, DLNN và xóa đói giảm nghèo) với 23 nhóm tiêu chí.
  • Trụ cột Xã hội: Gồm 9 khía cạnh (Sự hài lòng của người dân địa phương, Ảnh hưởng của DLNN đối với cộng đồng, Sự tham gia và nhận thức của cộng đồng, Duy trì sự hài lòng của du khách, Sức khỏe, Đối phó dịch bệnh, An ninh du lịch, An toàn công cộng, Bình đẳng giới) với 48 nhóm tiêu chí.
  • Trụ cột Văn hóa: Gồm 2 khía cạnh (Bảo tồn di sản đã xây dựng, Ảnh hưởng của DLNN tới văn hóa địa phương) với 8 nhóm tiêu chí.
  • Trụ cột Môi trường: Gồm 11 khía cạnh (Giảm tác động di chuyển, Quản lý năng lượng, Biến đổi khí hậu, Bảo tồn nguồn nước, Chất lượng nước uống, Xử lý nước thải, Quản lý chất thải rắn, Ô nhiễm không khí, Kiểm soát mức ồn, Đóng góp bảo tồn thiên nhiên, Marketing du lịch bền vững) với 43 nhóm tiêu chí.
  • Trụ cột Quản trị: Gồm 8 khía cạnh (Kiểm soát cường độ sử dụng, Quản lý sự kiện, Tích hợp DLNN vào quy hoạch, Kiểm soát phát triển, Khả năng tiếp cận, Giao thông vận tải, Đa dạng hóa sản phẩm/dịch vụ, Chính sách quản lý môi trường tại doanh nghiệp) với 45 nhóm tiêu chí.

Chương này cũng thiết lập chặt chẽ thuật toán tính toán các chỉ số thống kê (Mean, Cronbach's Alpha, Kendall's W) và quy trình điều chỉnh bảng hỏi giữa các vòng khảo sát.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về xây dựng bộ tiêu chí về phát triển du lịch nông nghiệp bền vững áp dụng cho vùng chè tại tỉnh Thái Nguyên

Chương 3 phân tích thực trạng địa bàn nghiên cứu và kết quả thực nghiệm sàng lọc tiêu chí. Tỉnh Thái Nguyên có diện tích 3.562 km², dân số trên 1,307 triệu người, 8 dân tộc cùng sinh sống, sở hữu hơn 800 di tích lịch sử - văn hóa và 238 làng nghề (với hơn 200 làng nghề chè truyền thống). Tổng diện tích chè toàn tỉnh đạt trên 18.500 ha, diện tích kinh doanh gần 17.000 ha, năng suất bình quân 109 tạ/ha, sản lượng xấp xỉ 185.000 tấn/năm. Đề tài làm rõ đặc tính của "Tứ đại danh trà":

Vùng chè Đặc điểm địa lý & Diện tích Năng suất / Sản lượng Sản phẩm & Điểm đến đặc trưng
Tân Cương (TP. Thái Nguyên) Tập trung tại 3 xã (Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu); diện tích trên 1.300 ha (hơn 1.100 ha cho thu hoạch). Năng suất bình quân đạt 150 tạ/ha. Hương cốm tự nhiên, vị tiền chát hậu ngọt. Điểm DL: HTX Hảo Đạt, HTX Tâm Trà Thái, HTX Tiến Yên; xóm Hồng Thái 2, Khuôn 1, Khuôn 2, Gò Mốc.
Đại Từ Nằm phía Tây Bắc, diện tích chè lớn nhất tỉnh và thứ 2 cả nước; 30/31 xã thị trấn trồng chè (19 xã chân núi Tam Đảo, Núi Hồng, Núi Chúa). Có 52,73 ha đạt tiêu chuẩn VietGAP. Hương thơm đậm đà; thương hiệu chè La Bằng, Khuôn Gà (Hùng Sơn), Hoàng Nông, Quân Chu.
Đồng Hỷ Đứng thứ 3 toàn tỉnh về diện tích trồng chè; hưởng phù sa sông Cầu; có 9 làng nghề chè. Tiếp tục duy trì và mở rộng diện tích sản xuất chè an toàn VietGAP. Vùng chè Trại Cài; tập trung tại xã Minh Lập, Hòa Bình và thị trấn Sông Cầu.
Phú Lương Huyện miền núi phía Tây Bắc; diện tích chè đạt 4.357 ha. Năng suất 101 tạ/ha/năm; 40,4% diện tích chè thâm canh giống mới. Vùng chè Khe Cốc (xã Tức Tranh) nức tiếng nhờ đất sạch kiềm, tưới nước khe suối nguồn sông Cầu; xã Vô Tranh, Phú Đô.

Về thực trạng hoạt động DLNN: Mô hình bước đầu thu hút lượng lớn khách tham quan. Điển hình như Hợp tác xã chè Hảo Đạt, dù chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, năm 2020 vẫn đón khoảng 40.000 lượt khách; các HTX Tâm Trà Thái, HTX DL cộng đồng chè Tiến Yên đón hàng nghìn lượt du khách/năm. Tuy nhiên, mô hình bộc lộ 6 nhóm hạn chế cơ bản: người dân thiếu tư duy dịch vụ chuyên nghiệp; CSVC và cơ sở lưu trú còn đơn sơ; thiếu liên kết bền vững với các công ty lữ hành; mức chi tiêu của du khách thấp do sản phẩm chế biến sâu chưa đa dạng; hoạt động quảng bá còn rời rạc; và quy hoạch vùng du lịch gắn với bảo tồn cảnh quan nương chè chưa được đồng bộ hóa.

Về kết quả khảo sát Delphi: Vòng thử nghiệm thực hiện ngày 06/01/2023 tại Tân Cương với 15 phiếu phát ra, thu về 6 phiếu đánh giá chi tiết và 9 bản nhận xét chuyên sâu. Tiêu chuẩn chọn lọc tiêu chí ($\bar{Y} > 5,0$ và $t \ge 80%$) đã loại bỏ các tiêu chí không đạt yêu cầu đồng thuận cao (ví dụ: câu hỏi Q1 thuộc trụ cột Kinh tế có $\bar{Y} = 5,7$ nhưng tỷ lệ đồng ý chỉ đạt $t = 50% \rightarrow KL = 0$ loại bỏ; trong khi các tiêu chí đạt sự đồng thuận tuyệt đối như nhóm tiêu chí về sự hài lòng của người dân $t = 100%, KL = 1$ được bảo lưu để đưa vào bảng hỏi Vòng 1). Quá trình khảo sát qua các vòng tiếp theo đã tinh gọn hệ thống tiêu chí, thiết lập hướng dẫn chi tiết phục vụ công tác quản lý điểm đến vùng chè.


Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả cụ thể dựa trên dữ liệu thu thập thực tế:

  • Chuẩn hóa khung đánh giá 5 trụ cột: Khóa luận đã xây dựng một bộ tiêu chí đánh giá mức độ phát triển DLNN bền vững có tính đặc thù cho vùng chè, bao quát 5 trụ cột: Kinh tế, Xã hội, Môi trường, Văn hóa và Quản trị, chuyển đổi từ danh mục 167 tiêu chí quốc tế sang hệ thống tiêu chí tinh gọn, thích ứng với điều kiện thực tế tại địa phương.
  • Hệ thống dữ liệu hiện trạng chi tiết: Cung cấp bức tranh toàn diện về tiềm năng kinh tế và du lịch của 4 vùng chè trọng điểm của Thái Nguyên, xác nhận số liệu thực tế tại các mô hình hợp tác xã tiêu biểu (HTX Hảo Đạt đón 40.000 lượt khách năm 2020; vùng chè toàn tỉnh đạt 18.500 ha với sản lượng 185.000 tấn).
  • Hệ thống giải pháp và kiến nghị đề xuất: Tác giả kiến nghị chính quyền tỉnh và Sở Du lịch cần:
    1. Xây dựng quy hoạch không gian tích hợp giữa bảo tồn vùng nguyên liệu chè đặc sản với các tuyến du lịch trải nghiệm.
    2. Nâng cấp CSHT giao thông kết nối các trục liên xã vào các hợp tác xã chè lớn (Tân Cương, La Bằng, Khe Cốc, Trại Cài).
    3. Mở các lớp đào tạo kỹ năng tiếp đón, giao tiếp, ngoại ngữ và vệ sinh an toàn thực phẩm cho nông dân trực tiếp làm du lịch.
    4. Đẩy mạnh liên kết giữa hợp tác xã nông nghiệp với các công ty lữ hành để xây dựng tour du lịch văn hóa trà khép kín, nâng cao mức chi tiêu của du khách.
  • Đóng góp học thuật: Về mặt lý luận, khóa luận bổ sung hai trụ cột Văn hóa và Quản trị vào khung 3 trụ cột truyền thống, phản ánh tính đặc thù của di sản văn hóa trà. Về mặt phương pháp, đây là một trong những công trình tiên phong tại Việt Nam áp dụng quy trình kiểm định Delphi kết hợp chỉ số Cronbach's Alpha và Kendall's W vào xây dựng tiêu chí đánh giá du lịch nông nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Hạn chế về cỡ mẫu chuyên gia: Trong vòng thử nghiệm, số lượng phiếu khảo sát thu về đầy đủ thông tin định lượng còn khiêm tốn (6/15 phiếu), phần lớn chuyên gia đóng góp bằng ý kiến nhận xét định tính, đòi hỏi phải xử lý dữ liệu cẩn trọng qua các vòng sau.
  • Tính đại diện của hội đồng: Hơn 60% chuyên gia tham gia hội đồng khảo sát thuộc Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên; sự tham gia của các chuyên gia khối doanh nghiệp lữ hành quốc tế và nhà quản lý cấp cao còn chiếm tỷ lệ thấp.
  • Phạm vi không gian ứng dụng: Dữ liệu khảo sát sơ cấp tập trung trọng điểm vào vùng chè Tân Cương và một số hợp tác xã lớn, chưa bao quát đầy đủ tất cả các hợp tác xã vùng sâu tại các huyện vùng cao như Võ Nhai hay Định Hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả định hướng mở rộng nghiên cứu sang kiểm định thực tế bộ tiêu chí thông qua việc chấm điểm định lượng cho từng điểm đến cụ thể; mở rộng ứng dụng kỹ thuật phân tích thứ bậc (AHP) hoặc Fuzzy AHP để tính toán trọng số chính xác cho từng chỉ số thành phần; và thử nghiệm mở rộng mô hình cho các vùng cây công nghiệp đặc sản khác trên phạm vi cả nước.

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, Ủy ban nhân dân các huyện Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ và TP. Thái Nguyên trong việc tham khảo bộ tiêu chuẩn để quy hoạch, cấp phép và thẩm định các điểm DLNN nông thôn đạt chuẩn OCOP du lịch.
  • Ban quản trị các hợp tác xã, doanh nghiệp du lịch: Cung cấp bộ khung tự đánh giá năng lực hoạt động, rà soát lại các mắt xích yếu kém trong quản lý chất thải, bảo vệ nguồn nước, bảo tồn văn hóa pha trà và kỹ năng đón tiếp du khách.
  • Sinh viên, học viên ngành Kinh tế phát triển, Du lịch học, Quản lý tài nguyên: Cung cấp phương pháp luận thực chứng về việc ứng dụng kỹ thuật Delphi, cách thức thiết kế bảng hỏi Likert 7 mức độ và các kiểm định thống kê tin cậy (Cronbach's Alpha, Kendall's W) trong nghiên cứu khoa học kinh tế - xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả đã đề xuất đánh giá tính bền vững của du lịch nông nghiệp vùng chè dựa trên những trụ cột nào?
Thay vì chỉ dùng 3 trụ cột truyền thống (Kinh tế, Xã hội, Môi trường), tác giả đã đề xuất khung đánh giá gồm 5 trụ cột: Kinh tế, Xã hội, Môi trường, Văn hóa và Quản trị. Ban đầu, có 167 nhóm tiêu chí được tổng hợp từ tài liệu của các tổ chức quốc tế (UNWTO, WTO, ETIS) để đưa vào quy trình thẩm định.

2. Điểm ngưỡng thống kê nào được sử dụng để quyết định giữ lại hoặc loại bỏ một tiêu chí trong vòng khảo sát Delphi thử nghiệm?
Tác giả áp dụng nguyên tắc chọn lọc kép dựa trên phân tích thống kê mô tả: một tiêu chí chỉ được chấp nhận giữ lại cho vòng khảo sát tiếp theo khi đạt giá trị trung bình $\bar{Y} > 5,0$ (trên thang đo Likert 7 điểm) và có tỷ lệ đồng thuận của hội đồng chuyên gia $t \ge 80%$. Những tiêu chí không đáp ứng đồng thời cả hai điều kiện này đều bị loại bỏ.

3. Hội đồng chuyên gia tham gia đánh giá Delphi có đặc điểm chuyên môn và cơ cấu như thế nào?
Hội đồng chuyên gia ban đầu gồm 23 người, trong đó 65,78% có cả kiến thức lý luận lẫn kinh nghiệm thực tế về DLNN (không có thành viên nào thiếu kiến thức chuyên môn). Về chức danh nghề nghiệp, 60,87% là các nhà quản lý cấp trung, 39,13% là quản lý cấp cao và nhà nghiên cứu. Về cơ quan công tác, đa số chuyên gia làm việc tại các trường đại học, viện nghiên cứu (chủ yếu là Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên), số còn lại thuộc khu vực tư nhân.

4. Dữ liệu thực tế cho thấy hiện trạng diện tích và năng suất chè của tỉnh Thái Nguyên đạt mức bao nhiêu?
Toàn tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích chè đạt trên 18.500 ha, trong đó diện tích chè cho thu hoạch (kinh doanh) đạt gần 17.000 ha; năng suất bình quân đạt 109 tạ/ha và sản lượng búp tươi đạt xấp xỉ 185.000 tấn/năm. Riêng vùng chè đặc sản Tân Cương có diện tích trên 1.300 ha (hơn 1.100 ha cho thu hoạch) với năng suất bình quân cao vượt trội, đạt 150 tạ/ha.

5. Lượng khách thực tế tại hợp tác xã chè tiêu biểu trên địa bàn được ghi nhận trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Nghiên cứu ghi nhận tại Hợp tác xã chè Hảo Đạt (vùng chè Tân Cương), dù chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19 trong năm 2020, cơ sở này vẫn tiếp đón khoảng 40.000 lượt khách du lịch đến tham quan, trải nghiệm không gian văn hóa trà. Các hợp tác xã lân cận như Tâm Trà Thái và Hợp tác xã du lịch cộng đồng chè Tiến Yên cũng duy trì đón hàng nghìn lượt du khách mỗi năm.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hà đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá du lịch nông nghiệp bền vững áp dụng riêng cho các vùng chè tại tỉnh Thái Nguyên. Bằng việc ứng dụng bài bản kỹ thuật Delphi chuyên gia cùng hệ thống kiểm định thống kê định lượng nghiêm ngặt, đề tài đã cụ thể hóa khung 5 trụ cột (Kinh tế, Xã hội, Môi trường, Văn hóa, Quản trị) thành các chỉ số đo lường có tính ứng dụng cao. Các phân tích chi tiết về thực trạng phát triển cùng hệ thống giải pháp đề xuất là căn cứ xác đáng phục vụ công tác quy hoạch du lịch nông thôn và nâng cao sinh kế cho người trồng chè địa phương.