CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE XÂY DUNG BỘ TIEU CHÍ VE PHAT TRIEN DU LICH NONG NGHIEP BEN VUNG VA CO SO LY LUAN VE DU LICH NONG NGHIEP, TINH BEN VUNG 1. Tổng quan nghiên cứu về xây dung bộ tiêu chí về phat triển du lịch nông nghiệp bền vững 1. Trên thế giới Karin Schianetz va Lydia Kavanagh (2008) trong nghiên cứu “Sustainability Indicators for Tourism Destinations: A Complex Adaptive Systems Approach Using Systemic Indicator Systems” đã đề xuất một phương pháp thực tế - SIS (Hệ thống chi báo hệ thống) dé bé sung thêm các chỉ số bền vững nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống chỉ số đánh giá bền vững điểm đến DL. Phương pháp SIS được thử nghiệm bằng cách sử dụng một nghiên cứu điển hình về dự án làng sinh thái nghỉ mát gần Công viên Quốc gia Lamington ở Queensland, Australia, thông qua việc đánh giá tinh bền vững của các vấn dé văn hóa - xã hội, kinh tế và môi trường.
Qua đó, các tác giả nhấn mạnh rang SIS sẽ là một phương tiện hữu ích đề bắt đầu quá trình học tập hợp tác của các bên liên quan về DL trong bối cảnh của phương pháp quản lý thích ứng. Trong bài nghiên cứu “Developing sustainable rural tourism evaluation indicators” của Duk-Byeong Park và Yoo-Shik Yoon (2011), các tác giả đã kết hop kỹ thuật Delphi và quy trình phân cụm thứ bậc (AHP) trong nghiên cứu phát triển các chỉ số đo lường sự phát triển của DL nông thôn trong khuôn khổ bền vững. Sau ba vòng khảo sát Delphi kết hợp với một vòng phân cụm thứ bậc, 33 chi số dùng dé đánh giá DL nông thôn bền vững dựa trên 4 khía cạnh chất lượng phục vụ, CSVC, hệ thống quản lý và kết quả đã được xác định. Mặc dù nghiên cứu còn một số hạn chế như các chỉ số được phát triển không bao gồm một số chỉ số liên quan đến việc đánh giá tính bền vững ở khía cạnh xã hội, song việc xây dựng các chỉ số này đóng vai trò là cơ sở cho sự phát triển DL trong tương lai ở tất cả các cấp quy hoạch.
Trong bài nghiên cứu “Evaluation of the Sustainability of Tourism in lhiara Valley and Suggestions”, Somuncu và cộng sự (2015) đặc biệt nhấn mạnh vào tiêu chi sự hài lòng về DL. Bên cạnh đó, các tác giả cũng chỉ ra rằng khi sự tham gia của cộng đồng 8 trong phát triển DL, đặc biệt là trong các mô hình DL dựa vào cộng đồng được quan tâm đúng mực hơn thì vấn đề lợi ích và năng lực của cộng đồng sẽ càng được coi trọng hơn. Có thé nói rằng, phúc lợi cộng đồng là một trong những khía cạnh quan trọng dé đánh giá tính bên vững của DL trong nghiên cứu của Somuncu va cộng sự. Nghiên cứu “Measuring the sustainability of Cuban tourism destinations considering stakeholders’ perceptions” của Leon và cộng su (2017) cũng chi ra rang, trong đo lường tinh bền vững của DL, việc sử dụng các chỉ số trở thành một vẫn đề quan trọng.
Các tác giả đã xây dựng bộ chỉ số bền vững cho các điểm đến DL ở Cuba có tính đến nhận thức của các bên liên quan, bao gồm các cá nhân tham gia hội thảo về DL bền vững, KDL và người dân địa phương bằng việc kết hợp giữa kỹ thuật Delphi và lý thuyết quyết định đa tiêu chí, thu được bộ chỉ số đo lường tính bền vững DL ở ba khía cạnh kinh tế, xã hội và di sản, trong đó, kinh tế được xem như khía cạnh chính khi đánh giá tính bền vững DL của điểm đến. Dù chưa được hoàn thiện song các chỉ số trên cũng là một công cụ hữu ích cho việc hoạch định chính sách và truyền thông đại chúng trong việc truyền tải thông tin của các quốc gia và hoạt động của DN trong DL. Tai Việt Nam Bài nghiên cứu “Phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận trên quan điểm phát triển bén vững” của La Nữ Anh Vân (2012) cũng đánh giá những nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển DL tỉnh Bình Thuận dựa trên hệ thống các tiêu chí đánh giá mức độ bền vững của hoạt động DL là kinh tế, xã hội và môi trường. Giống với nghiên cứu của Châu Quốc Tuấn và Nguyễn Thị Minh Hiền, tỉnh Bình Thuận vẫn phải đối mặt với những khó khăn thách thức trong phát triển DL bền vững như van đề về nguồn vốn dau tư, kết cấu hạ tầng chưa phát triển, chất lượng nguồn nhân lực thấp và môi trường đặt ra nhiều vấn đề bức xúc chưa được giải quyết, do vậy tỉnh cũng cần có các chính sách tăng cường quản lý nhà nước về DL, đào tạo nhân lực, đây mạnh quảng bá DL gan với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (TNTN).
Trong “Đánh giá phát triển du lịch biển đảo bền vững vịnh Bái Tử Long”, Châu Quốc Tuấn và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014) đã thực hiện khảo sát với 641 KDL, 100 người dân và 25 cán bộ văn hóa, cán bộ địa phương để nghiên cứu thực trạng phát triển DL bền vững của khu vực này. Kết quả cho thấy DL Vịnh có đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế địa phương, giảm tỷ lệ hộ nghèo và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường, suy thoái văn hóa, mất 6n định an ninh trật tự là nguyên nhân chính khiến mô hình DL này phát triển thiếu bền vững. Qua đó, các tác giả gợi ý rang cần có chính sách quy hoạch phát trién DL, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đồng thời day mạnh xúc tiến quảng bá, bảo vệ môi trường dé phát trién bền vững DL biển đảo.
Võ Thị Ngọc Giàu (2015) trong “Phát triển du lịch làng nghề tại Bến Tre” đã nghiên cứu thực trạng phát triển DL tại tỉnh và thấy rằng còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, đoàn thé trong xây dựng, quy hoạch làng nghề; khó khăn trong cạnh tranh, tiêu thụ hàng hóa, nguồn vốn sản xuất khiến nhiều làng nghề ở đây dần mai một và hoạt động cầm chừng, không có sức hút đối với du khách; cơ sở hạ tầng (CSHT) nghèo nàn, ô nhiễm môi trường, thiếu đội ngũ có tay nghề và phong cách phục vụ DL thiếu chuyên nghiệp là những nguyên nhân chính khiến hoạt động DL làng nghề tỉnh Bến Tre phát triển thiếu bền vững. Dé loại hình DL này hoạt động tốt hơn thì cần có sự chung tay góp sức của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương và cả bản thân các làng nghề. Trong nghiên cứu “Đánh giá phát triển du lịch bền vững: Trường hợp mô hình du lịch dựa vào cộng dong tai Bản Lac, xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình”, Hùng Nguyễn (2017) cho thấy sự cần thiết để áp dụng một phương pháp đánh giá bài bản dựa trên cơ sở định lượng dé phat hién cac khia canh thiéu bén vững trong DL tại Ban Lac, qua đó đề xuất các biện pháp cải thiện phù hop. Bang việc xây dựng và áp dung bộ tiêu chí đánh giá phát triển DL bền vững vào Ban Lac, tác giả đã cho thấy các tiêu chí liên quan đến Môi trường và Cộng đồng và phát triển DL ở trạng thái chưa bền vững, do vậy cần phải có các biện pháp nâng cao nhận thức của KDL, bảo vệ cảnh quan môi trường truyền thống, tổ chức các chương trình tập huấn kinh doanh DL cho người dân, bồi dưỡng nâng cao chất lượng DL và phải có chính sách, công tác xúc tiến, quảng ba DL một cách bài bản.
Khoảng trồng nghiên cứu Nhìn chung, rất nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam vẫn giữ nguyên quan điểm và sử dụng ba tiêu chí căn bản là kinh tế, xã hội và môi trường để đánh giá mức độ bền vững của các mô hình DL. Ở nước ngoài, DLNN thuộc về lĩnh vực DL nói chung nên có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến phát triển DL bền vững đã đề xuất xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của DL nói chung mà không đề cập đến khía cạnh DLNN nói riêng. Ở Việt Nam, DLNN thuộc về lĩnh vực phát triển nông thôn. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam thuộc lĩnh vực phát triển DL bền vững thường đề cập tới phân tích thực trạng tại khu vực nghiên cứu, từ đó các tác giả đề xuất giải pháp làm thé nào dé phát triển bền vững mô hình DL dựa trên đánh giá chủ quan cá nhân theo số liệu thống kê thu thập được va it sử dụng các công cụ định lượng khi tiễn hành nghiên cứu, khiến cho cách thức đánh giá chưa được bài bản và chưa có tính mới.
Bên cạnh đó, vùng chẻ tỉnh Thái Nguyên được nhìn nhận như là một trong những vùng có lợi thế và tiềm năng to lớn để triển khai mô hình DLNN thành công tại Việt Nam, tuy nhiên hiện nay chưa có nghiên cứu nao được thực hiện dé xác định các tiêu chí cụ thé để đánh giá tính bền vững của mô hình DLNN cho các điểm đến tại vùng chè một cách bài ban. Do vậy bài nghiên cứu này sẽ xây dựng một bộ tiêu chí bài ban dé đánh giá tinh bền vững của mô hình DLNN tại khu vực này, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát trién DLNN tại vùng chè tỉnh Thái Nguyên một cách bền vững. Một điểm nữa đó là bài nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật Delphi chuyên gia để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển DLNN bên vững tại vùng chè tỉnh Thái Nguyên dựa trên 5 trụ cột: Kinh tế, Xã hội, Môi trường, Văn hóa và Quản trị. Tại Việt Nam, phương pháp Delphi được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, quản lý, y tế,.
nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu nào áp dụng phương pháp này dé xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của DLNN, đặc biệt là ở vùng chè tỉnh Thái Nguyên, trong khi phương pháp này đã được ứng dụng ở nhiều quốc gia khác liên quan đến lĩnh vực DL. Như vậy, có thể coi việc áp dụng phương pháp Delphi chuyên gia vào bài nghiên cứu này là một trong những đóng góp chính và là tính mới của đề tài này. Cơ sở lý luận về du lịch nông nghiệp và tính bền vững 1. Du lịch nông nghiệp 1.
Khải niệm DLNN là loại hình DL tạo ra sản phẩm phục vụ du khách chủ yếu dựa trên nền tảng của hoạt động SXNN.