ĐẶT VẤN ĐỀ Trồng rừng phủ xanh đất chống đồi núi trọc và trồng rừng phục vụ cho công nghiệp hoặc trồng rừng với mục đích khác, ngoài các cây trồng rừng chính như: Thông, Keo, Bạch đàn, Muồng, Tếch, Lát.Đối với tỉnh Sơn La nói chung và huyện Yên Châu nói riêng cây Cao Su là một cây trồng mới được đưa vào gây trồng một vài năm gần đây. Nó được xem như là một cây xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân, tạo công ăn việc làm cho bà con địa phương, cải thiện đời sống cho người dân nơi đây. Cao Su là một cây trồng có nhiều tác dụng bản thân loài cây này sinh trưởng tốt và có khả năng phòng hộ nơi đất dốc, có giá trị sinh thái cao đặc biệt cây Cao su còn đem lại nguồn lợi về kinh tế cho người dân: sản lượng nhựa có thể chế biến thành sản phẩm có giá trị tiêu thụ lớn trên thị trường trong nước và ngoài nước, ngoài sản phẩm nhựa ra cây Cao su còn có thể khai thác gỗ làm các công trình xây dựng nhỏ và đóng đồ gia dụng, sản xuất bao bì. Cũng như bao cây trồng khác, Cao su có khả năng quang hợp làm giảm nồng độ CO2 và tăng nồng độ O2 trong không khí ( hút khí CO2 và nhả khí O2 trong quá trình quang hợp), điều hoà khí hậu tạo không khí trong lành.
Lợi ích của cây Cao su là như vậy nhưng vấn đề mà chúng ta đang gặp phải khó khăn hiện nay là việc quy hoạch diện tích đất trồng sao cho phù hợp, nhất là tỉnh miền núi như Sơn La, với việc tiếp cận loài giống mới như cây Cao su. Yên Châu là một huyện miền núi của tỉnh Sơn La, cách trung tâm thành phố Sơn La 64 km về đông nam. Đất đai chủ yếu là đồi núi chiếm hơn 75 % diện tích toàn huyện. Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.
Chiềng Sàng là xã nằm trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế xã hội của huyện Yên Châu, cách trung tâm huyện 10 km về phía Tây bắc. Xã có điều kiện giao thông thuận lợi và địa hình tương đối bằng phẳng. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2.019 ha, gồm có 5 bản với 950 hộ 3986 nhân khẩu, gồm 2 dân tộc Thái, Kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.vn 7 sinh sống trong đó dân tộc Thái chiếm 79%, dân tộc Kinh chiếm 21%. Cuối năm 1998 xã đã thực hiện việc giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, tuy nhiên việc phân bổ đất đai cho các ngành, các thành phần quản lý và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mà chủ yếu là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn nhiều lúng túng, hệ canh tác lạc hậu, người dân thiếu vốn sản xuất, thiếu kiến thức canh tác.
Năm 2008 theo chủ trương chung của tỉnh và huyện, thúc đẩy trồng cây Cao su trên địa bàn huyện Yên Châu, mà xã Chiềng Sàng là một trong những xã được tham gia. Do đó hướng giải quyết hiện nay là giúp xã phân bổ lại đất đai, lập kế hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp quy hoạch sử dụng đất trồng Cao su trên địa bàn xã là nhiệm vụ cấp bách của xã. Chính vì những lý do trên, với hy vọng đóng góp một phần vào công tác quy hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương, cho nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu cơ sở khoa học cho quy hoạch phát triển vùng trồng cây Cao su ( Hevea brasiliensis ) tại xã Chiềng Sàng huyện Yên Châu tỉnh Sơn La”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.vn 8 Chƣơng I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
TỔNG QUAN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT.1 TRÊN THẾ GIỚI.1 Quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô. Đất có vai trò rất lớn đối với sản xuất Nông – Lâm nghiệp nói riêng và đối với các ngành kinh tế khác nói chung. Khoa học về đất đã trải qua hơn 100 năm nghiên cứu và phát triển, những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất, đã được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả. Ngày nay với tốc độ tăng dân số cao con người đã lạm dụng quá mức giới hạn vốn có của đất đai.
Đầu thế kỷ 16 dân số thế giới vào khoảng 500 triệu người, nhưng đến nay con số đó đã tăng lên hơn 6 tỷ người. Theo báo cáo về phát triển thế giới dự đoán dân số thế giới sẽ tăng lên khoảng 8,3 tỷ người vào năm 2025, Với tốc độ tăng dân số như trên thì không tránh khỏi tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, nhất là tài nguyên đất ngày càng bị thu hẹp và bị suy thoái nhanh chóng. Theo tài liệu của FAO thì thế giới đang sử dụng 17,6 tỷ ha rừng, hiện nay chỉ còn 4,1 tỷ ha, mỗi năm diện tích rừng bị thu hẹp 11 triệu ha. Riêng ở châu Á Thái bình dương vào những năm 1976 – 1980 mất 9 triệu ha rừng.
Cũng trong thời gian này, châu Phi mất 37 triệu ha rừng, châu Mỹ mất 18,4 triệu ha rừng. Trong khi đó diện tích trồng rừng hàng năm chỉ bằng 1/10 diện tích rừng mất đi. Nguyên nhân là do nạn phá rừng diễn ra tràn lan với tốc độ lớn, cho nên hiện nay có tới 875 triệu người phải sống ở những vùng sa mạc hoá. Do xói mòn hàng năm trên thế giới mất đi 12 tỷ tấn đất, với lượng đất mất đi như vậy người ta ước tính có thể sản xuất ra 50 triệu tấn lương thực.
Tài nguyên nước cũng bị ảnh hưởng lớn, hàng nghìn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới đang bị cạn kiệt dần, nước ngọt trở nên khan hiếm. Tuổi thọ của nhiều công trình thuỷ điện vùng nhiệt đới bị rút ngắn. Hàng năm thiệt hại do lũ lụt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.vn 9 hạn hán vẫn sảy ra nghiêm trọng trên thế giới và gây nhiều tổn thất to lớn cho nền kinh tế toàn cầu. Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng đất trên thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Trải qua một quá trình khai thác, bóc lột lâu dài tài nguyên thiên nhiên mà không hề nghĩ đến phục hồi và bảo vệ nó. Con người chỉ biết làm sao đem lại lợi nhuận cao về kinh tế trên mảnh đất mình sử dụng, chính vì lẽ đó mà thiên nhiên đã quay lưng lại với xã hội loài người, thiên tai hạn hán sảy ra thường xuyên, mặt đất nóng lên và lạnh đi một cách thất thường, tầng ôzôn bị phá huỷ, hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên băng giá hai cực tan ra, nước biển dâng cao nhấn chìm những vùng đất ven biển. Hiện nay trên thế giới các nước đang phát triển, đặc biệt ở châu Á đều có một thực trạng giống nhau đó là nạn du canh du cư đã tàn phá tài nguyên thiên nhiên, dân số tăng nhanh, nhiều vùng miền núi và nông thôn chưa tự cung tự cấp được lương thực thực phẩm, năng suất cây trồng vật nuôi lại thấp, tác động của nhà nước làm thay đổi về mặt kinh tế văn hoá xã hội còn ít. người dân nghèo khổ không còn cách nào khác là phá rừng lấy đất canh tác, khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, dẫn đến tình trạng mất rừng làm suy thoái tài nguyên đất.
Những hình ảnh đó phần nào đã làm cho con người thức tỉnh hơn, chính vì thế mà những năm gần đây con người đã biết sử dụng đất bền vững, hợp lý hơn, những mô hình sử dụng đất có tính chất bảo vệ đất chống xói mòn rửa trôi đất ngày càng được áp dụng rộng rãi. Tại các nước phát triển đã có rất nhiều các công trình quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhất là về đất, như Đức, Thuỵ Điển, Canada… thì công tác quy hoạch sử dụng đất đã có lịch sử từ hàng trăm năm. Những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất, phân tích mối quan hệ giữa cây trồng với từng loại đất, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ lập địa được coi là cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai có hiệu quả hơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.vn 10 Bang Wiscosin (Mỹ) đã có đạo luật sử dụng đất vào năm 1929, và xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin.
Kế hoạch này xác định diện tích cho sử dụng nông nghiệp, lâm nghiệp và nghỉ ngơi giải trí[34] Năm 1946, Jacks G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “ Phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất”. Đây là tài liệu đầu tiên đề cập đến việc đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất.[32] Năm 1967, nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất đã được hội đồng nông nghiệp châu Âu phối hợp với PAO tổ chức.[36] Năm 1988 Dent và các tác giả khác đã nghiên cứu về quy trình quy hoạch. Ông khái quát quy hoạch sử dụng đất trên 3 cấp và mối quan hệ giữa các cấp khác nhau: Kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp vùng (tỉnh huyện) cấp cộng đồng (xã, thôn) ông còn đề xuất trình tự quy hoạch (gồm 4 giai đoạn và 10 bước ).2 Quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô có sự tham gia. Từ cuối thập niên 70 thế kỷ 20, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân, được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và công bố kết quả.
Các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia như đánh giá nhanh nông thôn (RRA), nông thôn tham gia đánh giá (PRA). Những thử nghiệm phương pháp PRA vào thập kỷ 80 và lập kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trên 30 nước phát triển (Chambers 1994)[30], đã cho thấy ưu thế của phương pháp này trong quy hoạch. Phương pháp phân tích các hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất được nghiên cứu rộng rãi. Một trong những nghiên cứu có giá trị đó là tài liệu hội thảo giữa trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường tổng hợp kỹ thuật Dresden, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được Holm Wibrig đề cập đến một cách khá đầy đủ và toàn diện.