Phần mở đầu: Nêu lên các mục về Lí do lựa chọn đề tài, lịch sử vấn đề nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương nghiên cứu, cơ sở khoa học cho việc thực hiện luận văn. Phần nội dung: Gồm 3 chương Chương một: Giải quyết các vấn tổng quan về pháp môn Tịnh Độ, sự truyền thừa và hệ thống kinh điển. Chương hai: Giải quyết các vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn về tác giả, tác phẩm, duyên cớ khắc in lưu truyền, niên đại tác phẩm,… Chương ba: Giải quyết vấn đề nội dung tác phẩm truyền tải, cấu trúc tác phẩm, ý nghĩa nội dung và hình thức tác phẩm. Phần kết luận: Đưa ra những nhận xét đánh giá của người thực hiện đề tài, cũng như những đóng góp và hướng phát triển tiếp theo trong nghiên cứu.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ VÀ BẢN KINH QUÁN VÔ LƢỢNG THỌ Chương này trình bày các vấn đề tổng về pháp môn Tịnh Độ trên ba phương diện: Sự hình thành và lưu truyền pháp môn Tịnh độ nói chung và Pháp môn Tịnh Độ ở Việt Nam nói riêng; Kinh điển Tịnh Độ; Quá trình hình thành, lưu truyền và chú giải của Kinh Quán Vô Lượng Thọ. Bao gồm các mục cụ thể như sau: 1. Giới thiệu về pháp môn Tịnh Độ. Duyên cớ Phật nói pháp môn Tịnh Độ Đức Phật nói rằng: “Phật và chúng sinh cùng một thể tính bình đẳng không phân biệt”.
Nếu nhận chân được thể tính sáng suốt nhiệm màu ấy thì sẽ không có “Tịnh” và “Nhơ”, không có “Phật” và “Chúng sinh”, tất cả đều thanh tịnh sáng suốt. Dù là ngọn cỏ hạt cát cũng đều là Tịnh Độ, dù là cõi Sa Bà ác trược hay Tây Phương Cực Lạc thì cũng đều là cõi Tịnh Độ, mỗi niệm mỗi hơi thở đều là tịnh niệm, đều là Di Đà – Thích Ca, mọi cử chỉ động chân cất tay đều là Pháp thân chư Phật. Nhân do khí bẩm vật dục che lấp, tam độc thiêu đốt, Phật tuệ sáng suốt của chúng sinh ngày một mờ tối, xa rời Phật tính, cho rằng Phật và chúng sinh có cao có thấp. Tâm chạy theo cảnh, đắm vào hình sắc, “tâm viên ý mã” trôi nổi theo qui luật biến đổi “sinh - trụ - dị - diệt”, bởi vậy mà mới phân cao thấp, nhân ngã, Tịnh độ uế độ, mới có đau khổ và an vui.
Từ đó mà phân ra chúng sinh, Phật, Thánh, đường đi cũng khác, tám nạn ba đường, trôi lăn trong sáu ngả, lặn hụp trong ba cõi, từ mê này đến mê khác, cứ quay tròn trong vòng sinh tử hàng trăm nghìn kiếp chưa biết bao giờ ra khỏi. Do vậy, Đức Phật khai thị nhân địa của Đức Phật A Di Đà, để chỉ dạy cho chúng sinh pháp môn niệm Phật tam muội, chỉ rõ Tịnh độ làm nơi trở về. Niệm Phật để trở về với Phật tính vẳng lặng thanh tịnh, đầy đủ năng lực độ mình độ người, viên thành đạo quả, vào Tam - ma - địa thành đẳng chính giác, như người mê tỉnh giấc mộng dài. Tại sao Phật nói pháp môn Tịnh độ? Như chúng ta đã biết, thuốc không phân đắt rẻ, hễ chữa lành bệnh thì gọi là diệu dược.
Pháp không phân biệt cao thấp, cứ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giúp người giải thoát an vui thì là diệu pháp. Bệnh thì có muôn nghìn thứ, căn cơ có nhiều bậc thượng trung hạ khác nhau, do đó mà Đức Phật nói ra 84000 pháp môn để giáo hóa chúng sinh. Phàm công dụng của thuốc cốt là chữa lành thân bệnh, pháp để chữa lành tâm bệnh. Bởi vậy vạn pháp đều cùng một thể, Tịnh Độ là pháp môn thâu nhiếp mọi căn cơ, đó là con đường tắt đi đến cõi Cực Lạc “hoành siêu tam giới”.
Nơi đó không có tên đường ác, không có tiếng khổ, thuần là công đức phúc tướng trang nghiêm. Người sinh ở nước đó không còn thoái chuyển nơi đạo vô thượng chính đẳng chính giác, thường được cùng với các bậc thượng thiện tri thức, siêng tu tinh tiến. Đặc biệt là hạnh nguyện tiếp dẫn tất thảy chúng sinh niệm Phật của Đức Phật A Di Đà. Tuệ Viễn Đại sư từng dạy: “Những tên gọi của tam muội trong giáo pháp có rất nhiều, nhưng công đức cao dễ tiến tu, niệm Phật đứng đầu”, do vậy biết rằng Tịnh Độ là pháp môn tối thắng, phù hợp với căn cơ của muôn người.
Bất luận già trẻ gái trai ai ai cũng chỉ cần một niệm nhất tâm bất loạn thì đều được tiếp dẫn. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vì thấy lợi ích vi diệu đó, mà vì tất cả chúng sinh nói ra pháp môn Tịnh Độ, nhằm giúp người tu hành sớm được thành tựu. Hơn nữa, người tu hành muốn được thành Phật tất phải học nhiều pháp môn và trải qua thời gian ba A tăng kì kiếp như Thiện Tài trong Kinh Hoa Nghiêm cầu pháp ở khắp mọi nơi. Nhưng chúng sinh ở cõi Sa Bà ác trược có nhiều chướng ngại, lại không thường được gặp Phật, cho nên sự thành công là rất khó.
Phật muốn đảm bảo cho người tu hành chắc chắn có kết quả như ước nguyện và để an lòng những người lo sợ pháp khó tu khó chứng mà thoái chuyển tâm Bồ đề. Bởi vậy, Phật đã nói pháp môn Tịnh Độ chỉ chuyên niệm danh hiệu Phật. Pháp này muôn người tu muôn người chứng, như trong Tứ Liệu Giản, Vĩnh Minh Đại Sư, vị tổ thứ 6 Liên Tông, đời Tống đã nói: “Không Thiền có Tịnh Độ Muôn người tu muôn người chứng Thấy được Phật Di Đà Lo gì không khai ngộ” 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi đã sinh sang cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, việc tu hành trở nên thuận lợi, thường được gặp Phật, luôn ở cùng các bậc thượng thiện căn, cảnh giới an lạc tất thảy đều thuận theo ý nguyện, tất cả đều hiện pháp vi diệu, thẳng đến thành Phật mà không bao giờ còn thoái chuyển. Hơn thế nữa, Pháp môn Tịnh độ ứng hợp với căn cơ của chúng sinh trong tam thời giáo.
Thời chính pháp chúng sinh nhiếp nơi Luật mà thành tựu sự tu hành. Thời Tượng pháp chúng sinh nhiếp nơi Thiền mà thành tựu quả vị tu chứng. Riêng thời Mạt pháp chúng sinh chỉ có nương nơi pháp môn niệm Phật cầu sinh Tịnh độ mà thành tựu được. Như vậy, đặt trong bối cảnh thời kì Mạt pháp này, chúng sinh căn tính độn lụt chiếm phần nhiều, số người thượng căn thượng trí có thể đốn ngộ không xuất hiện, Tịnh độ là pháp môn tối diệu xứng hợp với căn cơ của chúng sinh, thâu nhiếp tất thảy mọi căn cơ và dù dụng công nông sâu có khác nhưng nhất định đều có được những thành tựu tu tập.
Trong Phật Quang Đại Từ Điển (tr6153 - 6165) có ghi: “Tông nghĩa của Tông này là lấy hành nghiệp trong tâm hành giả tu Tịnh Độ làm nội nhân, lấy nguyện lực của Đức Phật A Di Đà làm duyên bên ngoài. Nếu nội nhân và ngoại duyên ứng hợp với nhau thì sinh về nước An Lạc”. Do vậy, Tịnh độ pháp môn được Đức Phật nói ra vì lòng thương sót chúng sinh, đây là pháp môn duy nhất không cần ai thưa hỏi Phật tự thuyết giảng (vô vấn tự thuyết). Khái quát về quá trình lưu hành và truyền bá pháp môn Tịnh Độ ở Việt Nam hiện nay.
Tịnh Độ là một trong những pháp môn tu tập phổ biến đối với người Phật tử tại nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Giáo nghĩa Tịnh Độ tông thuộc hệ tư tưởng Đại thừa và xuất hiện vào thời kỳ Phật giáo phát triển. Tịnh Độ nói theo ngôn ngữ nhà Phật, đó là một trong những phương tiện thiện xảo của Phật nhằm cứu vớt chúng sinh ra khỏi nhà lửa tam giới, thoát khỏi biển khổ sinh tử luân hồi, trầm luân đau khổ một cách nhanh chóng. Nhất là trong thời mạt pháp, khi các kinh điển hoại diệt hết, chúng sinh chỉ có thể y cứ vào pháp môn Tịnh Độ để tu tập đạt đến giải thoát mà thôi.
Trong kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy rằng: “Về đời mai sau, khi các kinh đạo đã diệt hết 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rồi, ta dùng sức từ bi thương sót, riêng lưu lại kinh này thêm một trăm năm nữa. Chúng sinh nào gặp được kinh này, tùy theo sở nguyện đều được độ thoát” (Đương lai chi thế, kinh đạo diệt tận, ngã dĩ từ bi ai mẫn, đặc lưu thử kinh, chỉ trụ bách tuế. Kì hữu chúng sinh, trị tu kinh giả, tùy ý sở nguyện, giai khả đắc độ). Đây được coi là lời huyền kí Đức Phật giành riêng cho chúng sinh đời Mạt pháp.
Tịnh Độ được truyền ở Trung Quốc từ đầu thế kỉ thứ nhất, nhưng đến thế kỉ thứ ba mới chính thức hình thành và phát triển thành tông phái. Đến thời Diêu Tần, Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch một loạt các kinh điển Phật giáo từ tiếng Phạn sang tiếng Hán, một số kinh điển Tịnh Độ cũng được phiên dịch. Thời Lưu Tống, Ngài Cương Lương Da Xá dịch Kinh Quán Vô Lượng Thọ từ tiếng Phạn sang tiếng Hán. Đến thời Đông Tấn, pháp môn này được phát triển rộng rãi, nhờ vào công hoằng dương của Huệ Viễn Đại sư (334 - 416).
Ngài căn cứ theo ý chỉ của Tịnh Độ Tam kinh lập ra Tịnh Độ Tông, mở Bạch Liên Xã nơi chùa Đông Lâm. Hội này quy tụ những người chuyên niệm Phật A Di Đà, bất luận hàng tại gia hay xuất gia. Từ 123 vị sáng lập, số người tham gia ngày một đông nhiều và mau chóng lan rộng thành phong trào niệm Phật, cầu sinh Tây phương Cực Lạc thế giới. Từ đó cho đến ngày nay, pháp môn Tịnh Độ hoằng truyền ngày một rộng rãi và phổ cập tới mọi tầng lớp trong xã hội.
Sự truyền thừa pháp môn Tịnh Độ không giống như các pháp môn khác. Như đối với Thiền tông, người trước truyền tâm ấn cho người sau, nó mang tính tiếp nối. Đối với Tịnh Độ tông, mỗi vị tổ sau khi mất, căn cứ vào công lao trong việc xiển dương giáo pháp và các thụy tướng vãng sinh, để được xưng tôn lên ngôi vị tổ. Người được coi là tổ đầu tiên của Tịnh Độ tông là ngài Huệ Viễn.
Kể từ ngài Huệ Viễn truyền xuống các ngài như Thiện Đạo, Từ Mẫn, Thừa Viễn, Pháp Chiếu … cho đến Đại sư Ấn Quang có 13 vị tổ Tịnh Độ Trung Hoa. Ngoài ra, còn có rất nhiều các bậc tôn đức tu tập có công phu, góp sức lớn vào việc hoằng truyền pháp môn và đều có thoại tướng vãng sinh. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.