CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VE HOAT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VU DU LỊCH VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH 1. Khai quát về hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch 1. Khái niệm về du lịch Khái niệm về du lịch đầu tiên ra đời vào năm 1905 bởi Guyer và Feuler, theo đó du lịch là “Một hiện tượng độc đáo trong thể giới hiện đại trong đó nó phụ thuộc vào nhu câu, mong muốn trải nghiệm và thư giãn đang ngày càng tăng cao; ước mong được chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên, nghệ thuật và niềm tin thiên nhiên có thé dem lại hạnh phúc cho nhân loại và động lực dé các quốc gia giao thương nhờ vào những tiến bộ vượt bậc trong giao thương và phương tiện”). Một trong những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc định nghĩa du lịch thuộc về Giáo su Hunziker và Krapf thuộc Đại học Berne vào năm 1942.
Trong đó, khái nệm du lịch là “Sw tổng hòa giữa các hiện tượng và moi quan hệ từ việc di chuyển về mặt địa điểm nhưng không dẫn tới việc cư trú, định cư lâu dai và không có bat kỳ hành động sinh lợi nhuận”!?. Khái niệm này đã phân tách rõ giữa việc du lịch và di cư, đồng thời, khang định việc di chuyển và cư trú hoàn toàn cần thiết cho việc du lich. Nó cũng kế thừa những mục tiêu của các hình thức du lịch trước đó và loại bỏ việc gắn khái niệm du lịch với những chuyến đi mang tính công vụ hoặc có hoạt động nhăm mục đích sinh lợi. 2 Esen, Saban; Uyar, Hande (2016), Competitiveness of tourism and the evaluation of Turkey according international tourism competitive criteria, truy cập từ https://acikerisim.tr/bitstream/handle/1 1772/2619/2009%20Competitiveness%200f%20Tourism%20a nd%20The%20Evaluation.pdf?sequence=1 &isAllowed=y, tr.
03, truy cập ngày 07/12/2021, lúc 19h00”. Christopher Holloway, Claire Humphreys (2016), The business of tourism (Tenth Edition), Pearson Education Limited, UK, tr. 11 Cho tới năm 1993, Tổ chức Du lich thé giới mới đưa ra định nghĩa chính thức va được công nhận rộng rãi trên thế giới. Du lịch là “một hiện tượng văn hóa, xã hội và kinh tế đòi hỏi sự di chuyển của con người đến những quốc gia hay những địa điển khác bên ngoài khu vực sinh sống thường ngày của họ vì mục tiêu cá nhân hoặc mục tiễu công viéc/nghé nghiệp.
Những người này được gọi là khách viéng thăm (có thé là khách du lịch hoặc khách thăm quan, người cư trú hoặc không cư trú) và du lịch liên quan đến những hoạt động của họ, một trong số đó đòi hỏi có chỉ tiêu du lịch”!^. Tuy nhiên, cho tới năm 2010, Tổ chức Du lịch thé giới đã bổ sung vào định nghĩa về du lịch, trong đó, hoạt động này không kéo dài quá 01 năm. Tại Việt Nam, ngày 09 tháng 7 năm 1960, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã thay mặt Hội đồng Chính phủ nước VNDCCH ký ban hành Nghị định số 26-CP về việc thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương, đánh dấu sự ra đời của ngành Du lịch Việt Nam. Ngành Du lịch Việt Nam ra đời trong những năm tháng chiến tranh dau còn nhiều khó khăn, gian khổ, đất nước hai miền bị chia cắt nhưng sự ra đời này hết sức cần thiết và đáp ứng yêu cầu của thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc đồng thời thê hiện tầm nhìn sâu rộng của Đảng và Nhà nước.
Theo đó, Công ty Du lịch Việt Nam có nhiệm vụ đặt quan hệ và ký kết hợp đồng với các tổ chức du lịch nước ngoài, phối hợp với các tô chức có liên quan ở trong nước dé tổ chức cho khách nước ngoài vào du lịch Việt Nam và khách Việt Nam ra du lịch nước ngoài. Hội đồng Chính phủ cũng giao Công ty Du lịch Việt Nam tô chức và quản lý những cơ sở và những phương tiện cần thiết để phục vụ khách du lịch!5. Vào thời kỳ này, đối tượng phục vụ của ngành du lịch Việt Nam được cụ thê hoá là các khách du lịch từ nước ngoài, khách du lịch trong nước du lịch nước ngoài, các chuyến tham quan của cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân lao động Việt Nam và các đoàn ngoại giao, cơ quan đại diện, chuyên gia nước ngoài công tác tại Việt Nam nhăm tuyên truyền, giới thiệu sâu rộng với khách du lịch nước ngoài và khách du lịch trong nước những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử, những thành tích cách mạng, công cuộc xây dựng kiến thiết xã hội chủ nghĩa và truyên thông đâu tranh anh dũng lâu đời của nhân dân ta và nhắm '4 J. Christopher Holloway, Claire Humphreys (2016), The business of tourism (Tenth Edition), Pearson Education Limited, UK, tr.
!5 Tên gọi của Chính phủ nước VNDCCH va Chính phủ nước Việt Nam thống nhất theo Hiến pháp năm 1959. '6 Trung tâm Thông tin du lịch (2020), 09/7/1960 — Dau son lịch sử đánh dau sự ra đời Du lịch Việt Nam, truy cập từ https://vietnamtourism.php/items/33 124, truy cập ngày 08/12/2021, lúc 20h37. 12 phát triển kinh doanh về du lịch. Sau Đại thắng Mùa xuân 1975, ngày 23 tháng 01 năm 1979, Hội Đồng Chính Phủ ra Nghị định 32/CP quy định nhiệm vụ, quyền han và tô chức bộ máy của Tổng cục Du Lich.
Sau đó, Chính phủ! và Bộ Nội vụ ban hành các Nghị định số 120-HDBT ngày 15/8/1987, Nghị định số 119-HĐBT ngày 09/04/1990, Nghị định số 447-HĐBT ngày 31/12/1990, Nghị định số 5/CP ngày 26/10/1992, Nghị định số 20-CP ngày 27/12/1992, Quyết định 18/2002/QĐ-BNV ngày 25/12/2002 và các văn bản hướng dẫn nhằm quy định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của các cơ quan, tô chức hoạt động hoặc được Nhà nước trao thâm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch như Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và du lịch, Tổng cục Du lịch, Tổng Công ty du lịch Việt Nam, Hiệp hội Du lịch Việt Nam Tuy nhiên, mãi cho đến năm 1999, nước ta mới có văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên do cơ quan lập pháp ban hành, điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực du lịch là Pháp lệnh Du lịch năm 1999. Tuy chưa phải là một văn bản luật hoàn chỉnh do Quốc hội ban hành nhưng Pháp lệnh Du lịch đã góp phần thê hiện đường lối, chính sách du lịch của Nhà nước Việt Nam thời kỳ Đổi mới cũng như bước đầu điều chỉnh hoạt động du lịch, quản lý du lịch, kinh doanh dịch vụ du lịch một cách chuyên nghiệp và có hệ thống. Luật Du lịch năm 2005 ra đời thay thế cho Pháp lệnh Du lịch năm 1999, chứa đựng nhiều sửa đổi tiễn bộ cả về hình thức lẫn nội dung như: cải thiện kỹ thuật lập pháp; đưa ra cách hiểu về các từ ngữ, khái niệm được sử dụng trong luật; quy định cụ thé va chi tiết hơn về các chế định quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch (quản ly địa điểm du lịch, thanh tra, kiểm tra, xử ly vi phạm trong lĩnh vực du lịch), kinh doanh dịch vụ du lịch, xúc tiễn du lịch, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực du lịch. Luật Du lịch năm 2017 ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt: xu thế toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp lần thứ tư bùng nỗ mạnh mẽ trên toàn thế giới; đất nước hội nhập sâu rộng, trở thành thành viên của WTO và tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement — FTA) song phương và đa phương; Việt Nam tham gia những vòng đàm phán các FTA thế hệ mới như: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam — Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định thương mai tự do Việt Nam - Khối EFTA, ! Từ năm 1980 đến năm 1992, tên gọi của Chính phủ nước CHXHCNVN là Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) theo Hiên pháp năm 1980.
13 Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Duong (TPP — nay là CP TPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).; ngày 16/01/2017 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 08-NQ/TW, đề ra đường lối về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Cho tới nay, Luật Du lịch năm 2017 của Việt Nam quy định “Du lich là các hoạt động có liên quan đến chuyến di của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu câu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám pha tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác!а. Quy định này đã cụ thé hơn về thời gian hoạt động du lịch là không quá một năm thay vì “khoảng thời gian nhất định ”?° của Luật Du lich năm 2005— vốn có thé gây lúng túng do chưa có định nghĩa về “khoảng thời gian nhất định” được quy định bởi pháp luật chuyên ngành. Có thể nói, từ các khái niệm trên, khái niệm về du lịch đều được định nghĩa rất rộng va được giới han bởi không gian, thời gian, mục đích tham quan, trải nghiệm,.
trong đó các hoạt động mang mục đích công việc, chữa bệnh, đi du học không phải du lịch. Từ đó, nhóm tác giả cho răng du lịch phát sinh từ nhu cầu của con người và giới hạn trong bốn mục đích chính là tham quan, tìm hiểu, nghỉ dưỡng, giải trí. Đây đều là những nhu cầu chính đáng khi cuộc sống con người dang phát triển nhanh và mạnh mẽ. Tự trung lại, có thể hiểu du lịch là khái niệm dùng dé chuyến di và các hoạt động có liên quan đến chuyến di của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong khoảng thời gian không quá 01 năm, nhằm mục dich chủ yếu là nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan và tìm hiểu về các yếu tô tự nhiên, nhân tạo, van hod, lịch sử tại nơi du lịch.
Khái niệm về kinh doanh dịch vụ du lịch Tại Việt Nam khái niệm “kinh doanh ” được đề cập trong Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 như sau: “kh doanh là việc thực hiện mỘi, một số hoặc tất cả các công đoạn của quả trình đâu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục dich sinh lợi”?0. Sau đó, Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã đưa ra khái niệm cụ thể hơn như sau: “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tat cả các công đoạn 'S Khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch số 09/2017/QH14 do Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 19/6/2017. ! Khoản 1 Điêu 4 Luật Du lịch sô 44/2005/QH11 do Quôc hội Việt Nam ban hành ngày 14/06/2005. 29 Khoản 1 Điêu 3 Luật Công ty số 47-LCT/HĐNN8 do Quoc hội Việt Nam ban hành ngày 21/12/1990.
14 của quả trình, đâu tu, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục dich sinh lợi”.