Chương 1: Một số vẫn dé lý luận về bảo vệ người tiêu dùng trong hệ sinh thái đa nền tảng và pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong hệ sinh thái đa nền tảng 1. Khái quát về bảo vệ người tiêu dùng trong hệ sinh thái đa nền tảng 1. Khái niệm hệ sinh thái đa nền tảng Đề hiểu về khái niệm HST ĐNT, trước hết ta cần phân tích khái niệm nên tảng. “Nên tang” (hay “platform”) là sự kết nối bởi hệ thông mang lưới các điểm nút.
Trước đây, mạng lưới thường được hình dung dưới dạng hữu hình, như mạng lưới giao thông, mạng lưới điện, nước. Ngày nay, dưới sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng lưới vô hình như internet phát triển và trở nên phổ biến!. Điều nay tất yêu dẫn đến những mô hình kinh doanh trên nền tảng đơn diện và đa diện — là những thành t6 quan trọng cấu thành nên HST PNT. Kinh doanh trên nên tang đơn diện chỉ kết nối và giúp một nhóm khách hàng tiếp cận được hàng hóa, dịch vụ trên nền tảng (ví dụ như nền tảng cung cấp phim trực tuyến Netflix chỉ kết nối người đăng ký với những bộ phim trên nền tảng của mình).
Ngược lại, nền tảng đa diện (multi-sided platform) lại thường sử dụng mạng lưới internet dưới hình thức một ứng dụng công nghệ dé kết nỗi NTD với các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vu. Nền tảng đa diện lúc này chỉ là một bên trung gian kết nối hai hoặc nhiều nhóm khách hàng độc lập nhưng có sự phụ thuộc lẫn nhau, mà không trực tiếp sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Một vi dụ tiêu biểu là ứng dụng TMĐT Amazon. Nền tang này cung cấp một không gian trao đôi, mua bán giúp kết nỗi NTD với các sản phẩm được bày bán trên ứng dụng đến từ hàng ngàn nhà cung cấp khác nhau, đồng thời kết nối chính người bán với người mua bằng cách cho phép họ sử dụng các công cụ đăng bán, hay sử dụng các thuật toán phân tích dữ liệu dé giúp sản phẩm của người bán được hiên thị tới người dùng phù hop.
Khi xét tới khái nệm HST DNT, hiện nay chưa có một định nghĩa cu thể nào trong cả thực tiễn khoa học nghiên cứu và trong luật thực định. Khái niệm liên quan nhất là “kinh doanh hệ sinh thái” (business ecosystem) lần đầu được James F. Moore đưa ra từ năm 1993 là “việc các công ty cùng hợp tác và cạnh tranh dé cung cấp sản pham moi”. Ông xuất phát từ góc độ sinh học khi cho rang HST là một tập hợp các sinh vật có sự phụ thuộc lẫn nhau cùng phát triển, mà ở đó sự phát triển của một sinh vật sẽ tác động tới các sinh vật khác.
Tuy nhiên, khái niệm này chưa bao quát được ' Cục Cạnh tranh và Bảo vệ NTD - Bộ Công Thương (2018), Báo cáo nghiên cứu van dé cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh trên nên tang da điện, Hà Nội, tr. 6 về nền tảng cung cấp và chưa nêu được đặc điểm của nhóm sản phẩm, dịch vụ mà HST đem tới cho NTD. Một cách tiếp cận hiện đại hơn liên quan đến HST PNT được đưa ra bởi Bruce Delteil, Alex Le va Marcin Miller cho rang “HST số gom một chuỗi các dich vu có sự liên kết với nhau được cung cấp tới NTD dưới một trải nghiệm tích hợp.”3 Cách tiếp cận này đã nhắc đến đặc điểm tích hợp các tiện ích của HST DNT, song vẫn còn chưa cụ thê về vai trò của mỗi nền tảng trong việc cung cấp các tiện ích này và chưa làm nổi bật được tính “số” của HST. Từ những sự phân tích trên, nhóm tác giả xin được đưa ra một định nghĩa về HST PNT như sau: “HST ĐNT là một hệ thống các nền tảng số với chức năng riêng biệt nhưng có sự liên kết nhằm tạo ra đa dạng các loại hàng hóa, dịch vụ dé phuc vu nhu cầu của NTD dưới một trải nghiệm tích hợp”.
Lấy ví dụ về HST của Google: doanh nghiệp này cùng lúc sở hữu và cung cấp nhiều nền tảng khác nhau như nền tảng dịch vụ tìm kiếm trực tuyến Google Search, nên tảng gửi thư trực tuyến thông qua ứng dụng Gmail, nền tảng định vị trực tuyến Google Maps, nền tảng hỗ trợ dịch thuật Google Translate, nền tảng chia sẻ video Youtube,. Có thé thay mỗi nền tang trên lại cung cấp tới NTD một dịch vụ riêng biệt, nhưng đều được tích hợp trong một ID Google hoặc trong một hệ điều hành Android. Trong số các nền tảng của Google, có nền tảng đa diện (ví dụ nền tảng tìm kiếm trực tuyến giúp kết nối nhà quảng cáo với NTD), có nền tảng đơn diện (vi dụ nên tảng hỗ trợ dịch thuật, nên tảng định vi trực tuyến chỉ kết nỗi NTD với dịch vụ trên nên tảng). Khái niệm người tiêu dùng Thực tế tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về NTD.
Dưới mỗi góc độ và phương diện khác nhau, NTD lại được định nghĩa theo cách khác nhau. Liên quan đến việc xác định khái niệm NTD, hiện nay, trên thế giới hầu hết các quốc gia thường nhận diện NTD dựa trên việc đánh giá 03 tiêu chí đó là (i) NTD là cá nhân; (ii) đối tượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ; (11) việc tham gia vào quan hệ không nhằm mục đích kinh doanh. Tứ nhất, đôi với việc đánh giá tiêu chí về ban chất chủ thé của NTD, hiện nay, theo thông lệ, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều cho rằng NTD chỉ bao gồm cá 3 Bruce Delteil, Alex Le, and Marcin Miller (2020), “Six golden rules for ecosystem players to win in Vietnam”, McKinsey & Company, tai địa chỉ: https://www.com/vn/our-insights/six-golden-rules-for-ecosystem-players-to-win-in- vietnam? fbclid=IwAR210QB_ Z4eGi0RGJsffpuNhCnPKtL5iAeDzZpgikLidyJZfQaBcmPkXdBo, truy cập lần cuối ngày 05/02/2021. * Dương Thi Cam Hằng (2018), Quan điểm về khái niệm NTD theo cách tiếp cận của một số hệ thong pháp luật trên thé giới, tại địa chỉ: http://poi.vn/nghien-cuu/quan-diem-ve-khai-niem-nguoi-tieu-dung-theo-cach-tiep-can-cua-mot-so- he-thong-phap-luat-tren-the-gioi.html, truy cập lần luối ngày 11/03/2021.
Hi nhân chứ không bao gồm các tô chức. Theo quan niệm của Liên minh Châu Âu về khái niệm NTD tại Chỉ thị số 1999/44/EC ngày 25/05/1999 về việc mua bán hàng hóa tiêu dung và các bảo đảm có liên quan thì “NTD là bat cứ tự nhiên nhân nào tham gia vào các hợp đồng điều chỉnh trong Chỉ thị này. vì mục đích không liên quan đến hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình”. Theo Điều 13, Bộ luật dân sự của Đức năm 2002 định nghĩa: “NTD là bất cứ tự nhiên nhân nào tham gia giao dịch không thuộc phạm vi hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc nghề nghiệp của người này ”6.
Điều 2-1, Luật về Hợp đồng tiêu dùng của Nhật Ban năm 2000 định nghĩa: “NTD theo quy định của luật này là cá nhân nhưng không bao gồm trường hợp cá nhân tham gia quan hệ hợp đồng với mục đích kinh doanh.” Có thé thay, các quốc gia nói trên đều có chung một cách tiếp cận đó là chỉ coi NTD bao gồm cá nhân. Quan điểm này xuất phát từ mục đích của việc bảo vệ NTD với tư cách là bên yếu thé trong quan hệ với bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ do sự mat cân xứng về trình độ hiểu biết, khả năng tiếp cận thông tin cũng như điều kiện kinh tế của một cá nhân so với một tô chức hoạt động kinh doanh chuyên nghiệp. Thi hai, đôi tượng của giao dịch là những hàng hóa, dich vụ được phép lưu thông va đáp ứng được các nhu cầu của con người. Có thé hiểu được răng, đó là những gi được phép lưu thông và được người ta mua về để sử dụng cho các mục đích sinh hoạt, tiêu dùng cho cá nhân hay gia đình.
Tư ba, việc tham gia giao dịch của NTD không nhằm mục đích kinh doanh, thương mại. Xét trên tiêu chí này, NTD là người mua hàng hóa, dich vụ nhằm mục đích phục vụ sinh hoạt cho cá nhân, hộ gia đình chứ không sử dụng hàng hóa, dịch vụ vào mục đích cung cấp lại dé tìm kiếm lợi nhuận. Quan hệ tiêu dùng được xác lập dựa trên cơ sở hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ hoặc trên cơ sở sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Điều kiện này cũng được thể hiện rất tường minh, rõ ràng trong khái niệm NTD đã được trích dẫn ở trên của Liên minh Châu Âu, Đức hay Nhật Bản.
Với cách tiếp cận tương tự, tại Điều 2, Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 1993 của Trung Quốc, tuy không trực tiếp đưa ra định nghĩa về NTD nhưng thông qua việc quy định: “Truong hợp NTD, vì nhu cầu cuộc sống, mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ thì các quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ được bảo vệ theo quy định của Luật này và trường hợp Luật này không quy định thì sẽ được bảo vệ theo các quy định pháp luật khác có liên quan”, các nhà làm luật Trung Quoc cũng đã xác định NTD là các cá Š Chỉ thị của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng và các bảo đảm liên quan ban hành ngày 25 tháng 5 năm 1999 (Directive 1999/44/EC of the European Parliament and of the Council of 25 May 1999 on certain aspects of the sale of consumer goods and associated guarantees). 5 Germany Civil Code (Biirgerliches Gesetzbuch-BGB), tai dia chỉ: https://www.org/dyn/natlex/natlex4.detail?p_lang=&p_isn=61880&p_classification=01.03, truy cập lần cuối ngày 11/03/2021. 8 nhân mua, su dụng hang hóa, dịch vụ vì nhu cầu sinh hoạt của mình chứ không phải vì mục đích kinh doanh hoặc hoạt động nghé nghiệp. Theo pháp luật Malaysia, NTD không chỉ là người trực tiếp mua sản phẩm hay thuê dịch vụ mà bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa dịch vụ không phụ thuộc vào hợp đồng giữa họ với nhà cung cấp.
Dưới góc độ pháp luật Việt Nam, Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 có quy định tại Khoản 1 Điều 3: “NTD là người mua, sử dung hàng hóa dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tô chức””, Thứ nhất, về chủ thé, theo quy định của pháp luật Việt Nam, NTD bao gồm các đối tượng không chỉ là cá nhân tiêu dùng riêng lẻ mà còn là các tổ chức (như doanh nghiệp, cơ quan quản ly nhà nước, hiệp hội ngành nghé, tổ chức xã hội.) tiến hành mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức đó.3 Như vậy pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Việt Nam bao gồm pháp nhân và thé nhân là NTD và họ được bảo vệ trước những vi phạm từ nhà sản xuất.